Hiển thị các bài đăng có nhãn Dược. Hiển thị tất cả bài đăng

25 thg 9, 2012

Thuốc điều trị liệt dây VII

Chia sẻ bài viết này:

(SKDS) - Liệt mặt do lạnh là một chứng bệnh rất hay gặp vào những đợt lạnh đầu mùa hoặc những ngày rét đậm. Người bệnh tự nhiên tỉnh dậy thấy mình bị liệt hẳn một nửa bên mặt và rất kinh ngạc về điều này. Các thuốc chống liệt mặt sẽ có tác dụng trong các trường hợp mắc bệnh này.

Sự vận động cơ mặt do một dây thần kinh chi phối là dây thần kinh số VII. Nếu dây thần kinh này bị liệt hoặc bị mất chức năng thì mặt sẽ bị liệt luôn.

Có nhiều giả thiết về hiện tượng liệt mặt do lạnh nhưng người ta thường cho là nhiệt độ lạnh làm co mạch nuôi dưỡng dây thần kinh nên làm dây thần kinh mất chức năng. Đồng thời, lạnh còn làm viêm vô khuẩn những tế bào trong vùng phân bố. Hiện tượng viêm vô khuẩn gây ra phù và chèn ép thần kinh càng làm cho liệt nặng nề.

Để trả lại chức năng cho dây thần kinh số VII, chúng ta cần tác động vào chính những khâu mà bệnh lý gây ra. Trong đó các thuốc chống viêm mạnh, các thuốc giãn mạch tỏ ra có hiệu quả tức thời. Còn các thuốc làm tăng tính dẫn truyền thần kinh và tái tạo sợi thần kinh có tác dụng cải thiện chậm hơn nhưng lại mang tính hiệu quả triệt để lâu dài.

Thuốc chống viêm

Các thuốc chống viêm sử dụng ở đây phải là các thuốc chống viêm mạnh. Những thuốc này hoặc là phải ức chế sự hóa ứng động của bạch cầu hoặc là phải ức chế các chất trung gian hóa học của viêm như prostaglandin. Có ba thuốc đáp ứng được yêu cầu này.

Tổn thương dây thần kinh số VII gây liệt mặt.

Acetyl salicylic (aspirin): Đây là thuốc có tác dụng chống viêm tốt, không chỉ với bệnh viêm khớp như ưu thế của dòng họ nhà thuốc chống viêm non-steroid mà còn có tác dụng chống viêm với nhiều loại viêm khác như viêm do chấn thương, viêm do lạnh. Lẽ tất nhiên, thuốc vẫn có những tác dụng khác như hạ sốt, giảm đau, chống ngưng tập tiểu cầu.

Tuy nhiên, để có được liều chống viêm, chúng ta phải dùng liều tương đối cao đến 3g/ngày hoặc phải dùng dưới dạng tiêm. Với liều cao này, chúng ta phải đặc biệt lưu ý biến chứng viêm loét dạ dày và chảy máu tiêu hóa ở người bệnh. Cần nhớ là không được ăn thức ăn chua, cay trong quá trình uống thuốc. Thời gian uống thuốc chỉ cần 3-5 ngày là đủ.

Ngoài aspirin cần phải nhắc đến hai đại diện thuốc chống viêm khác là betamethason và dexamethason. Chúng thuộc nhóm thuốc chống viêm corticoid. Song trong họ hàng nhà corticoid, chỉ có hai thuốc này có tác dụng chống viêm mạnh, xứng đáng được lựa chọn. Chúng có tác dụng đặc biệt mạnh chống lại sự hóa ứng động bạch cầu, chống lại sự tổng hợp ra các chất trung gian hóa học nguy hại của viêm như prostaglandin, leukotrien.

Nếu coi đơn vị chống viêm của prednisolon (loại thuốc thường gặp) là 1 thì tác dụng của hai thuốc này là 30. Liều dùng phải đạt đến 2-4mg/ngày thì thuốc mới đạt được hiệu lực mạnh. Thường thì dùng dưới dạng tiêm sẽ nhanh đạt được tác dụng. Thời gian dùng chỉ nên là 3-5 ngày. Nếu tiêm thì chỉ tiêm trong 2 ngày đầu sau đó phải chuyển sang dạng uống. Cần đặc biệt lưu ý tới biến chứng phù và loét tiêu hóa khi dùng thuốc.

Thuốc tăng dẫn truyền thần kinh

Thuốc tăng dẫn truyền thần kinh tỏ ra có ưu điểm trong vấn đề điều trị liệt dây VII do lạnh. Vì lúc này dây thần kinh có thể bị mất một phần hay toàn phần chức năng dẫn truyền nên mới gây ra hiện tượng liệt. Nếu như chúng ta có thể phục hồi được chức năng dẫn truyền thì coi như giải quyết được khâu trọng yếu, cho dù nguyên nhân gây ra có là gì.

Thuốc khá điển hình và được cho là có tác dụng ưu thế là galatamin. Galatamin là một alkaloid được chiết xuất từ thảo dược. Nó có tác dụng tương đối mạnh và có nhiều tác dụng được ứng dụng trên lâm sàng như điều trị bệnh Alzheimer, bệnh nhược cơ, loạn dưỡng cơ, rối loạn thần kinh cảm giác. Một trong các tác dụng đó là kháng lại enzym acetyl cholinesterase.

Kháng lại enzym này thì kéo dài được sự tồn tại của acetylcholin trong hoạt động kết nối thần kinh. Đây là một chất trung gian thần kinh quan trọng giúp phục hồi dẫn truyền. Galatamin được chứng minh là có tác dụng ở các bệnh thần kinh do rối loạn vận mạch, rối loạn thần kinh do viêm như trong liệt dây VII.

Vì thế dùng thuốc có thể có tác dụng phục hồi nhanh chóng về triệu chứng liệt cho người bệnh. Lẽ dĩ nhiên, tác dụng chỉ là một phần. Thuốc đòi hỏi cũng phải dùng liều cao và kéo dài từ 7-10 ngày. Nếu có điều kiện thì nên đến các cơ sở y tế có khoa vật lý trị liệu để thực hiện biện pháp điện di nivalin thì tốt hơn. Vì điện di sẽ giúp đưa thuốc ngấm nhanh, mạnh, tại chỗ theo sự dẫn dắt của dòng điện.

Thuốc giãn mạch

Cơ chế gây bệnh là co mạch hay là rối loạn vận mạch nên các thuốc giãn mạch đã tác dụng vào cơ chế này. Tuy nhiên, việc dùng thuốc cần thận trọng. Nếu chúng ta dùng bất kỳ một loại thuốc giãn mạch nào mà không có sự lựa chọn có thể sẽ làm cho bệnh nặng thêm. Vì giãn mạch quá mức có thể gây ra phù tiến triển ở những mô đang bị tổn thương. Nó càng làm cho dây VII chậm hồi phục. Trong các thuốc giãn mạch chỉ nên chọn các thuốc chẹn canxi có ưu thế trên mạch máu của hệ thống đầu mặt cổ.

Đại diện điển hình có thể xem xét đó là vinpocetine. Đây là một dẫn xuất của vincamin, một alkaloid thực vật, có tác dụng chẹn canxi có ưu thế trên mạch máu thuộc hệ thống đầu mặt cổ. Khi canxi bị ức chế do thuốc, chúng sẽ không thể hiện được tác dụng trên hệ thống cơ vòng của các tiểu động mạch. Các cơ vòng không thể co thắt lại được hoặc chính xác ra là không thể co lại tối đa được.

Hiệu quả tiếp theo là mạch máu được giãn ra và tăng cường nuôi dưỡng cho vùng thiếu máu. Bên cạnh đó, thuốc còn có tác dụng chống viêm nhưng yếu, cũng là một điểm lợi được khai thác trong bệnh lý liệt mặt. Khi dùng hết sức chú ý tới tình trạng hạ huyết áp, rối loạn giấc ngủ, chóng mặt và buồn nôn.

Ngoài ra, trong bệnh liệt dây VII còn có thể dùng thêm một số thuốc khác như thuốc tăng tái tạo bao thần kinh, các chất chống gốc tự do, các vitamin nhóm B đặc biệt là vitamin B1, các thuốc lợi tiểu nhẹ nếu bệnh nhân có phù rõ, các kháng sinh bổ trợ nếu có nhiễm khuẩn. Việc phối hợp thuốc như thế nào người bệnh cần đi khám và thực hiện theo hướng dẫn của bác sĩ.          

BS.Vũ Huy Hiệu

Chuyên mục: , , ,

5 thg 7, 2012

Lưu ý khi dùng Furosemid

Chia sẻ bài viết này:

(SKDS) –  Furosemid là thuốc lợi tiểu được chỉ định dùng trong các trường hợp phù phổi cấp; phù do tim, gan, thận và các loại phù khác. Trong điều trị tăng huyết áp thì furosemid không phải là thuốc chính để điều trị mà phối hợp với các thuốc chống tăng huyết áp khác để điều trị tăng huyết áp ở người có tổn thương thận... Thuốc không được dùng với những trường hợp sau: mẫn cảm với furosemid và với các dẫn chất sulfonamid (ví dụ như sulfamid chữa đái tháo đường), tình trạng tiền hôn mê gan hay hôn mê gan, vô niệu hoặc suy thận do các thuốc gây độc đối với thận hoặc gan. Đối với người bệnh phì đại tuyến tiền liệt hoặc đái khó cần dùng thuốc một cách thận trọng vì có thể thúc đẩy bí tiểu tiện cấp làm bệnh trầm trọng hơn.

Thuốc có thể qua nhau thai vào thai nhi gây rối loạn nước và chất điện giải cho thai nhi hoặc làm giảm tiểu cầu ở trẻ sơ sinh. Vì vậy, để tránh nguy cơ này trong 3 tháng cuối thai kỳ chỉ được dùng khi không có thuốc thay thế, và chỉ với liều thấp nhất trong thời gian ngắn. Đối với trường hợp cho con bú, dùng furosemid trong thời kỳ này có nguy cơ ức chế tiết sữa. Trường hợp này nên ngừng cho con bú.

Người cao tuổi cần dùng thuốc theo đúng chỉ định của bác sĩ.  Ảnh: H.Linh

Tác dụng không mong muốn của thuốc chủ yếu xảy ra khi điều trị liều cao (chiếm 95% trong số phản ứng có hại). Hay gặp nhất là mất cân bằng điện giải (5% người bệnh đã điều trị), điều này xảy ra chủ yếu ở người bệnh giảm chức năng gan và với người bệnh suy thận khi điều trị liều cao kéo dài. Các dấu hiệu mất cân bằng điện giải bao gồm đau đầu, tụt huyết áp và chuột rút... nên cần kiểm tra thường xuyên điện giải đồ. Một số trường hợp nhiễm cảm ánh sáng cũng đã được báo cáo. Thường gặp là các triệu chứng như hạ huyết áp tư thế đứng, giảm natri, can xi, kali huyết. Việc bổ sung kali hoặc dùng kèm với thuốc lợi tiểu giữ kali có thể được chỉ định cho người bệnh có nguy cơ cao phát triển hạ kali huyết.

Ngoài ra, một số người bệnh có thể thấy buồn nôn, nôn hay rối loạn tiêu hóa. Hiện tượng ù tai, giảm thính lực có thể xảy ra khi dùng liều cao nhưng sẽ hồi phục khi ngừng thuốc. Việc sử dụng thuốc lợi tiểu mạnh như furosemid có thể gây ra thiếu máu cục bộ ở não nên không dùng để điều trị chống tăng huyết áp cho người cao tuổi.

Khi dùng cần chú ý, thuốc còn chất lượng thể hiện dung dịch không màu hoặc viên màu trắng. Khi thấy thuốc biến màu là hỏng. Cần để thuốc ở nơi mát, tránh ánh sáng. 

  Dược sĩ  Hoàng Thu Thủy

Chuyên mục: , ,

Thu hồi thuốc viên nén bao phim nalidixic

Chia sẻ bài viết này:

(SKDS) - Cục Quản lý Dược - Bộ Y tế vừa có công văn gửi Sở Y tế tỉnh Quảng Ngãi và Công ty TNHH MTV DPTW1 về việc thu hồi thuốc viên nén bao phim nalidixic acid tablets BP 500mg (chứa hoạt chất nalidixic acid), dạng viên nén bao phim, số lô: 4323; ngày sản xuất: 18/10/2010; hạn dùng: 17/10/2013; SĐK: VN-1109-06 và lô: 5046; ngày sản xuất: 29/1/2011; hạn dùng: 28/1/2014; SĐK: VN-1109-06, do Công ty Flamingo Pharmaceuticals Ltd., India sản xuất, Công ty TNHH MTV DPTW1 nhập khẩu vì không đạt tiêu chuẩn chất lượng về độ hòa tan.

Thuốc viên nén bao phim nalidixic acid tablets BP 500mg thuộc nhóm thuốc trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn.          

Hoàng Ngọc

Chuyên mục: , ,

Đình chỉ lưu hành một loại thuốc trị loét dạ dày, tá tràng

Chia sẻ bài viết này:

(SKDS) - Cục Quản lý Dược vừa có văn bản gửi Sở Y tế các tỉnh, thành phố trong cả nước thông báo quyết định đình chỉ lưu hành trên toàn quốc thuốc viên nang omeprazol 20mg, lô sản xuất PR/E/COM/003, hạn dùng: 12/09/2014, số đăng ký: VN- 2889-07 do Công ty Swyezer Laboratories Ltd. India sản xuất, Công ty cổ phần dược-thiết bị y tế Đà Nẵng nhập khẩu. Thuốc này bị đình chỉ lưu hành do không đạt tiêu chuẩn chất lượng về chỉ tiêu độ hòa tan của omeprazol trong môi trường đệm p.H 6,8.

Cục Quản lý Dược yêu cầu nhà sản xuất và nhập khẩu khẩn trương thu hồi lô thuốc không đạt tiêu chuẩn này. Thuốc omeprazol 20mg thuộc nhóm thuốc đường tiêu hóa được chỉ định dùng trong trường hợp loét dạ dày, tá tràng tiến triển, viêm thực quản do hồi lưu dạ dày-thực quản.        

Hoàng Nguyễn

Chuyên mục: , ,

22 thg 6, 2012

Cinarizin chữa rối loạn tiền đình: Những tác dụng phụ khi dùng

Chia sẻ bài viết này:

(SKDS) – Tiền đình là một bộ phận nằm ở phía sau ốc tai hai bên, nó là một hệ thống giữ vai trò quan trọng trong sự điều chỉnh thăng bằng tư thế, điệu bộ và các phối hợp khác của cơ thể như cử động mắt, đầu và thân mình. Khi bị rối loạn sẽ gây ra trạng thái mất cân bằng về tư thế với các biểu hiện như chóng mặt, hoa mắt, ù tai, quay cuồng, buồn nôn hoặc nôn thốc nôn tháo... Bệnh lại hay tái phát, nếu không được điều trị dứt điểm bệnh sẽ tiến triển nặng hơn để lại những di chứng mất thăng bằng, lao đao, mắt mờ nhòe, chân tay tê bì, run rẩy, suy yếu mệt mỏi làm ảnh hưởng rất nhiều tới sức khỏe và chất lượng cuộc sống của người bệnh.

Cinarizin là một trong những thuốc được dùng trong điều trị rối loạn tiền đình và phòng say tàu xe (cho những người hay bị nôn khi đi tàu xe).

Vị trí xảy ra rối loạn tiền đình.

Thuốc được dùng uống, tốt nhất là uống sau bữa ăn. Để phòng say tàu xe nên uống trước 2 giờ trước khi đi tàu xe. Đây cũng là thuốc có mặt rộng rãi trong các nhà thuốc và hay được người dân mua về tự sử dụng. Khi dùng thuốc này người bệnh cần lưu ý, không uống cinarizin cùng với rượu (chất ức chế thần kinh trung ương), hay thuốc chống trầm cảm 3 vòng vì có thể làm tăng tác dụng an thần của mỗi thuốc nêu trên hoặc của cinarizin. Không dùng cho người mẫn cảm với cinarizin hoặc bất cứ một thành phần nào của thuốc, người rối loạn chuyển hóa porphyrin.

Cũng như với các thuốc kháng histamin khác, cinarizin có thể gây đau vùng thượng vị. Vì vậy, việc uống thuốc sau bữa ăn có thể làm giảm kích ứng dạ dày. Thuốc có thể gây ngủ gà, đặc biệt lúc khởi đầu điều trị nên khi uống phải tránh những công việc cần sự tỉnh táo như lái xe, làm việc trên cao... Phải tránh dùng cinarizin dài ngày ở người cao tuổi, vì có thể gây tăng hoặc xuất hiện những triệu chứng ngoại tháp, đôi khi kết hợp với cảm giác trầm cảm trong điều trị kéo dài.

Khi sử dụng cinarizin điều trị rối loạn tiền đình nên tránh những công việc cần sự tỉnh táo như lái xe, làm việc trên cao.

Ngoài ra khi dùng thuốc người bệnh có thể gặp các tác dụng không mong muốn khác như rối loạn tiêu hóa, nhức đầu, khô miệng, tăng cân, ra mồ hôi hoặc phản ứng dị ứng, tụt huyết áp (khi dùng liều cao)... Chỉ dùng cinarizin trong thời kỳ mang thai khi thật cần thiết. Đối với phụ nữ cho con bú chỉ dùng khi lợi ích điều trị cho mẹ trội hơn nguy cơ có thể xảy ra đối với trẻ.

Có thể phòng hay khắc phục tình trạng ngủ gà và rối loạn tiêu hóa  (thường có tính chất tạm thời) bằng cách tăng dần liều dùng tới mức tối ưu và phải ngừng thuốc khi bệnh nặng hơn hoặc xuất hiện những triệu chứng ngoại tháp khi điều trị dài ngày cho người cao tuổi.         

  Dược sĩ Hoàng Thu Thủy

Chuyên mục: , ,

Khuyến cáo về tác hại trên gan của telithromycin

Chia sẻ bài viết này:

(SKDS) – Telithromycin là thuốc kháng sinh thuộc nhóm macrolid. Trong nhóm macrolid thì thuốc cổ điển là erythromycin có cách đây hơn 50 năm. Sau đó là sự ra đời clarithromycin, azithromycin. Nhưng sau 2 kháng sinh này là sự có mặt của telithromycin. Đây là thuốc mới hơn có tính vượt trội về nhiều mặt và chưa bị vi khuẩn kháng lại. Telithromycin được dùng như một “vũ khí chiến lược” chống lại các nhiễm khuẩn đường hô hấp như viêm phế quản, viêm phổi, viêm xoang cấp tính. Tùy tình trạng bệnh mà thời gian sử dụng thuốc có thể từ 5 - 10 ngày.

Tuy nhiên trong thời gian gần đây những tai biến do telithromycin gây ra cho gan là điều đáng quan ngại. Cũng về tác hại gây độc với gan thì 2 thuốc cùng nhóm clarithromycin, azithromycin chủ yếu chỉ làm thay đổi các chỉ số men gan như làm tăng aminotransferase, bilirubin trong huyết thanh kèm theo vàng da, sốt phát ban, tăng bạch cầu ưa eosin hay một số thuốc thuộc nhóm quinolon như levofloxacin chỉ làm thay đổi chức năng gan khi dùng lâu dài.

Nhưng với telithromycin không chỉ gây độc với gan theo cơ chế này mà còn gây tổn thương tế bào gan và có tần suất gây độc cho gan vượt trội hơn các loại kháng sinh nói trên. Ngoài ra, nó còn làm trầm trọng thêm bệnh nhược cơ ở những người bệnh có dùng statin, gây rối loạn thị giác, ngất.

Tính độc cho gan do thuốc ít được thử đầy đủ trước khi lưu hành. Bởi lẽ để xác định được tính độc trên gan do thuốc gây ra cần thử nghiệm với tỉ lệ 1/1.000 người dùng, như vậy ít ra phải thử trên 3.000 người. Khó kiếm được một lượng người khỏe mạnh tình nguyện lớn như thế để thử lâm sàng. Vì thế, tính độc cho gan do thuốc thường được phát hiện một cách ngẫu nhiên khi thử liều độc (LD50) hoặc thử trên một nhóm nhỏ (30-50 người) không có đủ tin cậy cần thiết.

Độc tính gan của thuốc phần lớn chỉ được phát hiện sau một thời gian đưa thuốc vào thị trường. Việc phát hiện độc tính gan của telithromycin nằm trong trường hợp chung này. Nó cũng giống như  trường hợp thuốc điều trị đái tháo đường troglitazon (rezulin). Khi thử nghiệm chỉ thấy thuốc tăng men gan, nhưng sau khi đưa ra thị trường đã làm cho 94 người bị suy gan trầm trọng và  bị rút khỏi thị trường vào năm 2000.

Hiện nay các thầy thuốc khuyến cáo: chỉ nên dùng telithromycin cho các trường hợp viêm phổi do phế cầu khuẩn kháng thuốc, còn trường hợp viêm phế quản, viêm xoang thì nên chọn các kháng sinh khác trong nhóm hoặc nhóm khác có hiệu quả tương đương, ít nguy cơ hơn. FDA đang xem xét lại nhằm hạn chế cho dùng kháng sinh này như các thầy thuốc đã khuyến cáo. Liên hệ với trường hợp thuốc đái tháo đường nói trên, người ta còn dự đoán cũng có thể tới đây telithromycin bị rút khỏi thị trường. Đương nhiên quyết định cuối cùng vẫn là FDA một khi thu thập đủ chứng cớ cân nhắc giữa lợi tích và nguy cơ. Trong khi chờ đợi, tốt nhất không nên lạm dụng.    

DS. Vũ Hải

Chuyên mục: , ,

17 thg 6, 2012

Sóng gió trong “làng” thuốc tiểu đường

Chia sẻ bài viết này:

(SKDS) –  Sulfamid chữa đái tháo đường (ĐTĐ) tolbutamid, được Hãng Upjohn phát minh trong thời kỳ mà insulin do Hãng Eli Lilly sản xuất để điều trị ĐTĐ còn đang chiếm vị trí độc tôn. Tuy nhiên qua cách dùng tolbutamid, các nhà y học nhận thấy sự hiện diện của một dạng bệnh mạn, không dùng insulin vẫn kiểm soát được, sau này gọi là ĐTĐ týp 2. Ý nghĩa to lớn của phát minh mới này không chỉ tìm ra một thuốc mới mà là từ dùng thuốc nhận ra một dạng bệnh mới, mở ra hướng điều chỉnh đường huyết bằng cách tác động lên tuyến tụy hay ngoài tụy. Sau sự khởi đầu từ sulfamid, các nhà khoa học đã tìm ra nhiều  thuốc điều trị ĐTĐ khác song chưa có sự đột phá!

Nhóm glitazon  sớm bước  lên bục vinh quang

Trong bối cảnh ấy, nhóm glitazon (thioglitazonedion) ra đời với dược tính độc đáo. Glitazon phức hợp với thụ thể PPAR (trong nhân của tế bào của các mô nhạy cảm với insulin ở tụy, gan, mạch máu...), qua đó thúc đẩy sự sao chép điều hòa gen, giúp tổng hợp một số protein cần cho các tế bào đáp ứng với insulin; từ đó  giúp cơ thể tận dụng insulin nội sinh bằng cách làm tăng tính cảm thụ, tăng hiệu suất hoạt động... nên có hiệu lực kiểm soát đường huyết tốt mà không gây kích thích làm suy kiệt tuyến tụy.

Ngoài ra, glitazon còn làm giảm lipid máu, cải thiện lâu dài tỉ số cholesterol toàn phần/trên HDL, giảm triglycerid, tăng tiêu sợi huyết, giảm albumin niệu, giảm huyết áp tâm trương, ngăn ngừa các chất trung gian (như CPR) gây viêm thành mạch... từ đó góp phần giảm các biến chứng không truyền thống của ĐTĐ; có lợi cho người bị ĐTĐ lâu năm, nặng, nhờn với các thuốc khác, thích hợp với người cao tuổi có kèm bệnh tim mạch. Chúng được xếp ngay vào vị  trí đầu, được đón nhận nồng nhiệt.

Nhiều loại thuốc điều trị tiểu đường có tuổi thọ ngắn vì tác dụng phụ nguy hiểm với người sử dụng.

... Song cũng sớm bị vùi dập

Thuốc thứ nhất trong nhóm glitazon là troglitazon (Tr) được PDA cấp phép tháng 1/1997. Không lâu sau, Cơ quan dược phẩm Anh phát hiện thuốc gây độc cho gan và quyết định thu hồi tháng 12 cùng năm. Đến năm 2000, Mỹ, Nhật  Bản cũng rút Tr ra khỏi thị trường. Dù tồn tại trong thời gian ngắn, Tr đã gây ra  90 trường hợp  suy gan trầm trọng! 

Thuốc thứ hai rosiglitazon (Rs) được PDA cấp phép năm 1999. 6 năm đầu, doanh số  cao, trung bình 1,5 tỉ USD/năm. Nửa đầu năm 2007, nhiều nghiên cứu trong đó  có 3 tổng phân tích của nhà sản xuất, của FDA, Nisissen  SE và Wolski, cho biết: Rs làm tăng 43% nguy cơ cơn đau tim, tăng 27% nguy cơ đột quỵ so với các nhóm kiểm chứng. Cuối 2007 - 2010 có thêm nhiều bằng chứng: 2 tổng phân tích bao gồm 10 nghiên cứu ngẫu nhiên cho thấy dùng Rs bị nguy cơ nhồi máu cơ tim cấp cao hơn dùng giả dược từ 30-80% (Nisissen SE, Wolski-2010; FDA - 2010). 7 nghiên cứu bệnh chứng, 14 nghiên cứu thuần tập (FDA-2010), đặc biệt nghiên cứu của FDA (Davis Graham DJ - 2010) trên 225.000 người dùng, đều đi đến kết luận là Rs gây ra tai biến tim mạch hoặc tử vong hơn pioglitazon 25%. Qua  tranh luận gay gắt và vài lần trì hoãn, cuối cùng FDA cũng cho rút Rs khỏi thị trường. Trước đó, mạnh mẽ và dứt khoát hơn, tháng 7/2010 Vương quốc Anh, tháng 9/2010 EMA (châu Âu) đã cấm lưu hành Rs. 

Thuốc thứ 3 pioglitazon (Po) ra đời gần cùng lúc với Rs. Từ khi Rs bị cho là  có tác dụng nguy hiểm, doanh số Po có cơ hội tăng, đạt 2,4 tỉ USD/năm (2008). Tuy tác dụng phụ trên tim mạch thấp hơn Rs, song Po cũng làm tăng nguy cơ suy tim sung huyết; hiệu lực bảo vệ tim mạch của Po khá khiêm tốn, không có ý nghĩa lâm sàng! Trong khi đó, Po bị nghi gây ung thư bàng quang. Bình thường các ung thư (tụy, gan, vú, nội mạc tử cung, trực tràng, bàng quang...) ở người ĐTĐ týp 2 vốn có tỉ lệ mắc cao hơn trong dân số chung. Do vậy, việc đánh giá mối liên quan giữa chúng rất khó khăn. Theo đó, việc xác định Po gây ung thư bàng quang càng nan giải.

Tuy nhiên, gần đây đã có bằng chứng về một nghiên cứu phân tích dữ liệu từ hệ thống báo cáo tác dụng phụ của FDA (2004 - 2005) cho thấy glicrazid, acabose chỉ gây ra lần lượt 6 và 4 thì Po gây ra đến 31 trường hợp ung thư bàng quang. Tháng 6/2011, có 3 sự kiện liên tiếp: Cơ quan An toàn sản phẩm y tế Pháp quyết định thu hồi Po vì gây ung thư cao; tiếp sau đó, Viện  Y tế liên bang Đức khuyên không kê đơn Po để tiếp tục điều tra. FDA cảnh báo dùng Po hơn 1 năm có thể bị ung thư bàng quang, buộc nhà sản xuất ghi cảnh báo lên nhãn. Đến thời điểm này, Po vẫn còn được lưu hành song liệu tới đây Po còn chỗ đứng trong điều trị  TĐ týp 2 không vẫn còn là câu hỏi còn bỏ ngỏ!

Nghĩ về thông tin thuốc

Trong hơn 10 năm, lịch sử phát minh dược phẩm đã ghi nhận nhiều cơn sóng gió tương tự. Chẳng hạn: nhóm kháng viêm coxib tạo ra sự phấn khích lớn khi mới ra đời vì làm giảm 30 - 50% tác dụng phụ viêm loét đường tiêu hóa, song sau đó có nhiều thuốc bị cấm (rofecobxib - 2004) do làm tăng đột quỵ, nhồi  máu cơ tim (valdecoxib - 2005) do gây độc, hoại tử biểu bì (lumitacoxib - 2007) do gây độc gan) nay chỉ còn duy nhất celecoxib nhưng tác dụng phụ trên tim mạch vẫn còn tranh luận.

Từ các cơn sóng gió này có thể nghĩ về thông tin thuốc: 

Người bệnh nhất là những người mắc bệnh mạn tính (viêm khớp, ĐTĐ, ung thư...) luôn mong đợi và thường cảm nhận bồng bột với thuốc mới phát minh (thấy nhiều ưu điểm, ít nhược điểm). Nước ta ít hoặc thường chậm nhập các thuốc này nên sự bồng bột ấy còn cao hơn.

Khi thuốc được các nước tiên tiến (như Mỹ, Anh, Pháp...) chấp nhận, ta có thói quen “tin tưởng tuyệt đối” các thông tin mà các hãng đưa ra khi trình xét lần đầu ở nước sở tại. Thực ra, sau đó chúng thường được phát hiện thêm tác dụng phụ. Phần đông bác sĩ, dược sĩ ít có điều kiện cập nhật thông tin “hậu mại” này; đến nỗi có thuốc khi Bộ Y tế thông báo cấm thì không ít người thấy đột ngột, chưa hiểu hết lý do. Nên chăng cần một tổ chức mạnh có đủ điều kiện giúp bác sĩ, dược sĩ đặc biệt ở tuyến dưới nắm bắt thông tin này.

Ta có trung tâm theo dõi tác dụng không mong muốn của thuốc (ADR) nhưng các cơ sở khám chữa bệnh chưa theo dõi, báo cáo ADR đầy đủ, đều đặn. Thiết nghĩ, vì sự dùng  thuốc an toàn, cần  khắc phục sớm khiếm khuyết này.

Thuốc là “con dao 2 lưỡi”. Nếu không tổ chức tốt việc cập nhật các thông tin về tác dụng phụ thì khác nào giấu đi một lưỡi nguy hiểm, dễ bất ngờ làm đứt tay người dùng.  

DSCKII. Bùi Văn Uy

Chuyên mục: , , , , , , ,

12 thg 6, 2012

Thuốc hạ sốt – giảm đau – chống viêm

Chia sẻ bài viết này:

Các thuốc trong nhóm này rất khác nhau về cấu trúc hóa học, gồm các dẫn xuất của salicylat, pyrazolon, anilin, indol và một số thuốc khác. Tất cả các thuốc, ở mức độ khác nhau, đều có tác dụng hạ sốt, giảm đau, và – trừ dẫn xuất anilin – còn có tác dụng chống viêm , chống thấp khớp, chống đông vón tiểu cầu. Vì vậy còn được gọi chung là thuốc chống viêm không (mang nhân) steroid (CVKS) để phân biệt với các glucocorticoid, mang nhân sterol, được gọi là thuốc chống viêm steroid.

Chuyên mục: , ,