Hiển thị các bài đăng có nhãn Châm cứu. Hiển thị tất cả bài đăng

12 thg 12, 2012

Hội chứng cổ vai cánh tay

Chia sẻ bài viết này:
1. Lâm sàng.
1.1. Hội chứng cột sống cổ.
- Đau cổ gáy: có 3 kiểu biểu hiện:
+ Đau cổ gáy cấp tính: Hay vẹo cổ cấp, xuất hiện sau một đêm ngủ dậy do gối đầu lệch hoặc sau lao động nặng, mệt mỏi, căng thẳng, lạnh... thấy đau vùng gáy một bên lan lên cùng chẩm. Thường khỏi sau vài ngày và hay tái phát.
+ Đau vùng gáy mạn tính: Đau âm ỉ khi tăng khi giảm, lan ít, khó vận động một số động tác vì đau, đôi khi thấy lạo xạo khi quay cổ.
+ Có điểm đau cột sống cổ: ấn vào các gai sau và cạnh cột sống cổ tương ứng các rễ thần kinh có thể tìm thấy điểm đau.
- Hạn chế vận động cột sống cổ: đau làm đầu vẹo sang một bên không quay về bên kia được do cơ bên đau bị co cứng phản xạ.
1.2. Hội chứng rễ thần kinh.
- Do thoái hóa hoặc thoát vị đĩa đệm chèn ép các rễ thần kinh thuộc đám rối thần kinh cánh tay, chủ yếu là rễ C5-C6. Đau vùng gáy âm ỉ tăng từng cơn nhất là về đêm, lan lên vùng chẩm và xuống vai và cánh tay. Biểu hiện lâm sàng là hội chứng vai-gáy, hoặc hội chứng vai-cánh tay.Thường đau sâu trong cơ, xương với cảm giác nhức nhối khó chịu, có khi đau nhói như điện giật. Đau cổ thường giảm nhanh trong khi đau vai và tay thì ngày một tăng. Đau có tính chất cơ học, đau tăng khi đứng, đi, ngồi lâu, khi ho, hắt hơi, khi vận động cột sống cổ; đau giảm khi nghỉ ngơi, khi kéo giãn cột sống cổ...
- Rối loạn vận động, cảm giác kiểu rễ: bại một số cơ chi trên như dạng vai (C5), bại gấp cẳng tay (C6), bại duỗi cẳng tay (C7), bại gấp các ngón tay (C8). Có thể kèm theo hiện tượng giật bó cơ khi bị teo cơ rõ. Tê một vùng ở cánh tay, cẳng tay, bàn ngón tay. Định khu của hiện tượng giảm cảm giác tùy thuộc vào rễ thần kinh bị chèn ép. Làm nghiệm pháp căngstyle="mso-spacerun: yes"> dây thần kinh của đám rối cánh tay thì đau và tê tăng.
- Rối loạn phản xạ kiểu rễ cổ: giảm hoặc mất phản xạ gân xương do rễ thần kinh chi phói bị chèn ép: Phản xạ gân cơ nhị đầu cánh tay (C5), phản xạ trâm quay (C6), phản xạ cơ tam đầu (C7).
- Tổn thương rễ thần kinh cổ:
+ Rễ C1, C2 và một phần C3 tạo ra dây thần kinh chẩm Arnold, khi tổn thương gây đau đầu vùng chẩm.
+ Rễ C3: đau vùng chẩm gáy; kèm theo nói khó và tức ngực.
+ Rễ C4: đau bả vai và thành ngực trước; có ho, nấc, khó thở.
+ Rễ C5: đau mặt ngoài cánh tay đến cẳng tay; yếu cơ delta.
+ Rễ C6: đau mặt trước cánh tay đến ngón cái và trỏ; yếu cơ nhị đầu.
+ Rễ C7: đau mặt sau cánh tay đến ngón giữa; yếu cơ tam đầu.
+ Rễ C8: đau mặt trong cánh tay đến ngón nhẫn và út; yếu cơ bàn tay.
- Một số nghiệm pháp đánh giá tổn thương rễ thần kinh cổ:
+ Dấu hiệu chuông bấm: ấn điểm cạnh sống tương ứng với lỗ ghép thấy đau xuất hiện từ cổ lan xuống vai và cánh tay.
+ Nghiệm pháp Spurling (ép rễ thần kinh cổ): bệnh nhân ngồi hoặc nằm nghiêng đầu về bên đau, thầy thuốc dùng tay ép lên đỉnh đầu bệnh nhân, đau xuất hiện ở rễ bị tổn thương do làm hẹp lỗ ghép.
+ Nghiệm pháp căng rễ thần kinh cổ: bệnh nhân ngồi đầu nghiêng xoay về bên lành. Thầy thuốc cố định vai và từ từ đẩy đầu bệnh nhân về bên kia, đau xuất hiện dọc theo rễ thần kinh bị tổn thương. Hoặc bệnh nhân ngồi, thầy thuốc đặt tay lên vùng chẩm ấn từ từ cho cằm chạm xương ức, đau cũng xuất hiện dọc theo rễ thần kinh bị tổn thương.
+ Nghiệm pháp chùng rễ thần kinh cổ: bệnh nhân ngồi, thầy thuốc nâng cánh tay bên đau của bệnh nhân lên đầu và đưa ra sau, các triệu chứng rễ giảm hoặc mất.
+ Nghiệm pháp kéo giãn cột sống cổ: bệnh nhân nằm ngửa, thầy thuốc dùng 2 bàn tay đặt lên cằm và chẩm bệnh nhân, từ từ kéo theo trục dọc một lực độ 10-15kg, các triệu chứng rễ cũng giảm hoặc mất.
1.3. Hội chứng động mạch sống - nền
- Đau đầu vùng chẩm, chóng mặt, ù tai, mờ mắt, đôi khi có giảm thị lực thoáng qua. Đặc biệt bệnh nhân luôn thấy người mệt mỏi.
- Rung giật nhãn cầu, hội chứng tiểu não, hội chứng giao bên. Có cơn sụp đổ (Drop - attacks) khi quay cổ quá nhanh ở tư thế bất lợi.
1.4. Các hội chứng thần kinh thực vật
- Hội chứng giao cảm cổ sau (Hội chứng Barré - Lieou): đau nửa đầu hoặc vùng chẩm, chóng mặt, ù tai, mờ mắt hoặc mất thị lực thoáng qua, cơn rối loạn vận mạch. Các triệu chứng trên tăng lên khi quay cổ.
- Hội chứng vai - bàn tay: đau ở vùng bàn tay, các ngón tay, da bàn tay, có khi xanh tím, giảm nhiệt độ so với bên lành.
- Kích thích đám rối thần kinh cổ sau: cơn đau kiểu mạch đập ở vùng chẩm, hội chứng Claude Bernard - Horner, tê cóng bàn tay kiểu Raynaud, loạn cảm bỏng buốt ở khớp vai, co cứng các cơ cổ, tức ngực, hụt hơi, dị cảm ở họng.
- Đau quanh khớp vai: đau có tính chất phản xạ từ cổ xuống vai và cánh tay, đôi khi có tức ngực vùng trước tim. Khác với viêm quanh khớp vai, ở bệnh nhân này không có hạn chế vận động khớp vai.
- Hội chứng cơ thang: đau mặt trong cánh tay xuống ngón 4-5 và đau lan lên chẩm; đau tăng khi quay và nghiêng đầu sang bên đau kèm theo có lạnh ngọn chi, xanh tím, phù nề, mất mạch quay. Cần chẩn đoán phân biệt với bệnh lý còn xương sườn cổ VII.
1.5. Hội chứng tuỷ cổ:
Do lồi hoặc thoát vị đĩa đệm gây chèn tuỷ hoặc rễ thần kinh: biểu hiện sớm bởi dấu hiệu tê bì và mất khéo léo hai bàn tay, teo cơ 2 tay, đi lại khó khăn nhanh mỏi. Giai đoạn muộn tùy vị trí tổn thương có thể thấy liệt trung ương tứ chi; liệt ngoại vi hai tay - liệt trung ương hai chân; rối loạn phản xạ đại tiểu tiện.

2. Dấu hiệu X quang.

2.1 Chụp X quang cổ thường quy.
- Hình ảnh X quang trên phim chụp cổ nghiêng thấy gai xương, mỏ xương ở thân đốt và mấu bán nguyệt, mỏ xương ở mấu bán nguyệt là lý do quan trọng, trực tiếp làm hẹp lỗ ghép và lỗ động mạch gây chèn ép rễ thần kinh và động mạch sống.
- Hình ảnh X quang trên phim chụp cổ tư thế thẳng cho thấy mờ đậm hoặc phì đại mấu bán nguyệt, bên tổn thương khe khớp bán nguyệt hẹp hơn bên lành.
- Trên phim chụp chếch 3/4 cột sống cổ thấy lỗ ghép méo mó và bị hẹp.
- Khi thoát vị đĩa đệm có thể thấy: mất ưỡn cong sinh lý, gai xương trước sau, hẹp khe liên đốt, trượt đốt sống, hẹp ống sống, hẹp lỗ ghép do gai xương.
2.2. Chụp tuỷ cản quang cột sống cổ.
Chụp tuỷ cản quang cột sống cổ khó hơn cột sống thắt lưng, kỹ thuật thường dùng là chụp tủy cổ đường bên giữa C1 và C2 trong tư thế bệnh nhân nằm sấp ngửa cổ tối đa.
2.3. Chụp cộng hưởng từ (MRI).
Trên ảnh MRI, đĩa đệm có ranh giới rõ, giảm tín hiệu trên T1 và tăng tín hiệu trên T2 do có nhiều nước. Các đĩa đệm thoái hóa do không có nước nên trên T2 tín hiệu không tăng so với các đĩa đệm khác. Khối đĩa đệm thoát vị là phần đồng tín hiệu với đĩa đệm nhô ra phía sau so với bờ sau thân đốt sống và không ngấm thuốc đối quang từ.
3. Nguyên nhân gây hội chứng cổ vai cánh tay.
3.1. Thoái hóa cột sống cổ.
- Thoái hoá đốt sống (Spondylosis): là sự thoái hoá các thành phần của xương khớp cùng các dây chằng cột sống tạo nên các gai xương. Hậu quả của thoái hoá các khớp đốt sống và dây chằng dẫn đến hẹp lỗ ghép (do mọc gai xương, phì đại mỏm khớp, hẹp đĩa đệm); trượt thân đốt (do mỏm khớp thoái hoá nặng, dây chằng lỏng lẻo, hở eo) và hẹp ống sống, hẹp lỗ động mạch thân nền.
Đặc biệt, khớp Luschka là một khớp giả đặc trưng chỉ ở cột sống cổ mới có, trong hoạt động chức năng luôn bị kích thích và dễ hình thành các mỏ xương ở giữa hai bờ thành sau ngoài đốt sống và có thể gây chèn ép vào tủy sống.
- Thoái hoá đĩa đệm (Disc degeneration): gồm tổn thương nhân nhày mất nước, vòng sợi giảm chiều cao và có nhiều vết rách (nứt), dẫn tới hẹp đĩa đệm và các đốt sống tiến lại gần nhau hơn, làm thay đổi sự hài hòa của các khớp đốt sống và làm thay đổi lỗ tiếp hợp.
- Hư xương sụn cột sống (Osteochondrosis): Là sự thoái hoá loạn dưỡng đĩa đệm và sự phản ứng của các tổ chức kế cận (dày mâm sụn, co cứng cơ cạnh sống, đau rễ thần kinh), biến đổi tăng dần theo lứa tuổi.
3.2. Thoát vị đĩa đệm cột sống cổ.
3.2.1. Các hình thái thoát vị đĩa đệm cột sống cổ.
- Thoát vị đĩa đệm theo hướng ra sau giữa gây chèn ép tủy hai bên (Hình 6.14-1).
- Thoát vị đĩa đệm theo hướng cạnh giữa gây chèn ép một bên thân tủy (Hình 6.14-2).
- Thoát vị đĩa đệm theo hướng sau ngoài gây chèn ép một bên thân tủy và rễ thần kinh (Hình 6.14-3).
- Thoát vị đĩa đệm vào lỗ tiếp hợp gây chèn ép vào nhánh rễ thần kinh (Hình 6.14-4).
- Thoát vị đĩa đệm sang bên gây chèn ép vào động mạch sống và dây thần kinh sống (Hình 6.14-5).
- Thoát vị đĩa đệm ra trước không gây chèn ép vào rễ thần kinh, thân tủy và động mạch sống (Hình 6.14-6).

3.2.2. Đặc điểm lâm sàng thoát vị đĩa đệm cột sống cổ.

Thoát vị đĩa đệm cột sống cổ có bệnh cảnh lâm sàng rất đa dạng, phong phú, thay đổi tùy thuộc vào vị trí, thể loại, mức độ thoát vị và các giai đoạn của bệnh. Các hội chứng lâm sàng thường gặp là: hội chứng chèn ép rễ đơn thuần, hội chứng chèn ép tủy đơn thuần, hội chứng tủy rễ phối hợp và hội chứng rối loạn thần kinh thực vật.
- Hội chứng chèn ép rễ đơn thuần: có bệnh cảnh giống hội chứng cổ vai cánh tay như đã trình bày ở trên.
- Hội chứng chèn ép tủy đơn thuần thường khởi phát âm thầm, tiến triển từ từ trong thời gian dài với các biểu hiện:
+ Rối loạn vận động: là triệu chứng nổi bật, lúc đầu thấy mất khéo léo bàn tay, thay đổi dáng đi, đến các biểu hiện liệt ngoại vi hai tay và liệt trung ương hai chân. Kèm theo là các rối loạn về phản xạ và cơ tròn.
+ Rối loạn cảm giác: thường gặp tê bì ngọn chi trên, kèm theo có giảm cảm giác kiểu dẫn truyền dưới mức tổn thương. Thường giảm cảm giác đau và nhiệt, có thể giảm cả cảm giác sâu và cảm giác rung, nhưng cảm giác xúc giác thường vẫn còn.
+ Cột sống cổ đau nhẹ hoặc không đau, có thể có hạn chế vận động cột sống cổ.
- Hội chứng tủy rễ phối hợp: là hội chứng thường gặp, đợt cấp tính của hội chứng rễ tủy có thể xảy ra sau một chấn thương nhẹ trên bệnh nhân có thoái hóa cột sống cổ. Thường triệu chứng tủy rõ hơn triệu chứng rễ, các rối loạn về vận động và phản xạ rõ hơn rối loạn về cảm giác.
- Hội chứng rối loạn thần kinh thực vật: do thoát vị chèn vào dây chằng dọc sau, các màng tủy, mạch máu là những nơi có dây thần kinh đốt sống chi phối, dây này đã được bổ sung các sợi giao cảm từ hạch giao cảm cổ và hạch sao; còn do khớp mỏm móc đốt sống thoái hóa đè vào động mạch đốt sống. Biểu hiện lâm sàng: chóng mặt ù tai, mất thăng bằng; mắt mờ từng cơn, đôi khi đau ở phần sau hốc mắt; đỏ mặt đột ngột, cơn hạ huyết áp, vã mồ hôi, tăng nhu động ruột, cơn đau ngực do căn nguyên cột sống hay gặp trong thoát vị đĩa đệm C6-C7. Các gai xương phía trước hoặc thoát vị đĩa đệm ra trước gây khó nuốt do chèn ép thực quản.
4. Điều trị hội chứng cổ vai cánh tay.
- Thuốc giảm đau chống viêm.
- Nhiệt: tốt nhất là dùng paraffin đắp lên vùng cổ gáy, không nên chiếu hồng ngoại vào vùng gáy vì dễ làm kích thích hành tủy gây đau đầu.
- Điện xung: có thể dùng dòng TENS, dòng 2-5, dòng Diadynamic...
- Châm cứu: các huyệt Phong trì, Kiên ngung, Kiên tỉnh, Thiên tông, Khúc trì, Hợp cốc...
- Xoa bóp bấm huyệt vùng cổ vai cánh tay: xoa bóp có tác dụng để giảm đau và chống phù nề, tăng cường tuần hoàn dinh dưỡng. Tuy nhiên nó chỉ có tác dụng tốt sau thời kỳ cấp tính, tại thời điểm đau cấp các tổ chức còn rất nhạy cảm khi đó xoa bóp có thể làm tăng thêm tình trạng co cứng cơ. Kết hợp bấm nắn đốt sống bằng cách day và ấn trực tiếp lên gai sau đốt sống theo hướng ra trước, sang phải và sang trái (Hình 6.15).
- Kéo giãn cột sống cổ: là biện pháp điều trị cơ bản, với mục đích làm rộng các khe khớp, các lỗ ghép giảm chèn ép các rễ thần kinh; giãn cơ làm giảm co cứng cơ; giảm sự di lệch khớp. Thông thường, có thể chọn lực kéo lần đầu khoảng 7-8kg, rồi tăng dần mỗi lần 1kg cho đến khi đạt khoảng 20% thể trọng thì duy trì lực này cho đến hết đợt. Đối với tư thế ngồi lực kéo phải cao hơn để thắng được trọng lượng của đầu. Thời gian một lần kéo 10-15 phút, mỗi đợi 15-20 ngày.
- Tập vận động cổ, bả vai, khớp vai, cánh tay:
Bài tập nhịp ổn định của Rene Caillet: bệnh nhân nằm hay ngồi với tư thế cột sống cổ gấp nhẹ, KTV dùng hai tay áp sát và giữ chặt hai bên thái dương của bệnh nhân, tiến hành kéo giãn cột sống cổ thẳng trục cơ thể. Trong tư thế này, KTV dùng lực hai tay chuyển hộp sọ nghiêng bên hoặc xoay bên đồng thời bệnh nhân phải gồng cơ một lực vừa đủ để kháng lại sao cho hộp sọ vẫn đứng yên tại chỗ, tạo nên một co cơ đẳng trường đối với các cơ vận động cột sống cổ. Lực tạo ra từ KTV thay đổi từ thấp đến cao rồi lại xuống thấp (Hình 6.16).
- Dự phòng:
+ Không làm việc quá lâu tại bàn giấy, đặc biệt là với máy vi tính, cứ mỗi 30 phút nên dừng lại để thực hiện các động tác vận động cột sống cổ, vai và tay.
+ Giữ ấm vùng cổ vai khi trời lạnh, khi đi xe máy, khi ngủ…
+ Tập luyện các môn thể thao nhẹ nhàng, tránh tác động mạnh lên vai tay.

Tác giả Bs Mai Trung Dũng
theo dieutridau.com
Chuyên mục: , , , , , , , , ,

22 thg 11, 2012

Sách Châm cứu Đại Thành

Chia sẻ bài viết này:

u_t1112148885_hDylTác Giả: Dương Kế Châu

Dịch Giả: Phạm Tấn Khoa - Lương Tú Vân

Nhà xuất bản: Thuận Hóa

Ngày xuất bản: 4/2002

Số trang: 572

Kích thước: 20 x 28cm

Trọng lượng: 1130g

Số quyển / 1 bộ: 1

Hình thức bìa: Bìa cứng

Giá Bìa: 120.000 VNĐ

Bộ CHÂM CỨU ĐẠI THÀNH được xem là đóng góp đáng trân trọng của châm sư Dương Kế Châu. Ông đã sưu tầm và trích lục rộng rãi các tác phẩm và tài liệu châm cứu học đương thời và trước đó, đặc biệt là những tài liệu bị thất lạc, rồi kết hợp với những điều tâm đắc qua học tập vốn cũ của người trước cũng như kinh nghiệm thực tiễn lâm sàng lâu năm của mình. Tập sách này ghi và chú thích các đoạn quan trọng của nhiều sách châm cứu, bàn luận đến hệ thống kinh lạc, huyệt vị, thủ pháp châm cứu, các loại bệnh có thể chữa bằng châm và cứu, phương pháp điều trị kết hợp châm cứu với thuốc men, giới thiệu kinh nghiệm châm cứu chữa bệnh của người xưa và của ông.

Chuyên mục: , , ,

19 thg 6, 2012

PHƯƠNG PHÁP BỔ TẢ

Chia sẻ bài viết này:

Trong quá trình thực hiện công tác trị liệu bằng châm cứu, vấn đề bổ tả đóng vai trò quan trọng. Dĩ nhiên, tùy thuộc vào tình hình bệnh tật cụ thể mà ta có những phép bổ tả khác nhau. Để tiện việc thực hiện tốt việc bổ tả, xin tạm đưa ra một số phương pháp bổ tả, giúp phần nào cho người làm châm cứu trong lúc thực hành. Các phương pháp này được rút ra một cách tóm tắt trong các sách xưa nay.

A - BỔ TẢ ĐƠN

1. Bổ tả theo “Từ tật”

“Từ” có nghĩa là châm kim vào chậm, “tật” có nghĩa là khi châm kim vào phải nhanh, hoặc ngược lại, khi rút kim ra phải chậm, khi rút kim ra phải nhanh, tất cả tùy thuộc vào luận bệnh. Việc bỏ tả theo phương pháp này có những ý kiến khác nhau. Tuy nhiên, căn cứ vào “Tiểu châm giải” thì:

  • Bổ: “Từ nội: châm vào chậm” “tật xuất”: rút kim ra nhanh”

  • Tả: “Tật nội: châm vào nhanh” “từ xuất: rút kim ra chậm”.

Dù sao, việc châm vào rút ra nhanh hay chậm sẽ được phát huy rõ hơn trong các phương pháp bổ tả theo “phối hợp”.

2. Bổ tả theo đề sáp: châm vào rút ra:

Theo kinh điển thì phép Bổ tả được chia làm

  • Bổ: “Khẩn án” tức là khi châm vào như có sức nặng đè xuống. “Mạn đề” tức là khi rút kim ra phải nhẹ nhàng.

  • Tả: “Mạn án” tức là khi châm vào phải thật nhẹ nhàng. “Khấn đề” có nghĩa là rút kim ra như rút cái gì thật nặng nề.

Tuy nhiên, phải ứng dụng vào trường hợp châm “phối hợp” thì thuật mới bộc lộ rõ ý nghĩa của nó.

3. Bổ tả theo pháp vê (xoay) kim:

Đây là 1 phương pháp bổ tả thường dùng và được ứng dụng đa dạng, có ảnh hưởng bởi kinh dịch.

Thông thường thì:

  • Bổ: xoay kim về phía trái, tức là ngón tay cái hướng về phía trước, ngón tay trỏ hướng về phía sau.

  • Tả: xoay kim về phía hữu, tức là ngón tay cái lui về phía sau, ngón tay trỏ hướng về phía trước.

Phép bổ tả còn được qui định với số lần xoay theo 6 và 9 của Âm Dương…

4. Bổ tả theo “hướng” của Kim châm:

Đây là phép châm theo thủ thuật “nghênh tùy”.

  • Bổ: đầu kim châm nằm thuận theo hướng đi của kinh

  • Tả: đầu kim nằm nghịch với hướng đi của kinh.

5. Bổ tả theo hô hấp

Đây là 1 phương pháp bổ tả rất lý thú, quan hệ rất nhiều đến “khí hoá” Đông phương.

Sách châm cứu đại thành (trang 5/qu VI) viết: “Cái lý của hô hấp là 1 phép điều hoà Âm dương”. Cho nên Nội kinh có nói: Hô là nhân theo Dương để xuất, hấp là tùy theo Âm để nhập.

Tuy việc hô hấp có phân Âm Dương, nhưng sự thực là do có 1 khí mà thôi. Khí này đóng vai trò cái “Thể”. Khí vào bên trong, trải qua ngũ tạng, ra ngoài đi theo kinh Tam tiêu chủ lưu và phân bố ra toàn thân, tuần hoàn theo kinh lạc, “lưu chú vào các huyệt … tuy nhiên cái” dung của nó lại không giống nhau.

Cho nên mới nói rằng sự xuất nhập của ngũ tạng nhằm ứng với từ thời, sự thăng giáng của Tam tiêu thành khí vệ (doanh vệ), sự tuần hoàn của kinh mạch hợp với Thiên độ. Riêng sự hô hấp xuất nhập chính là cái “then chốt” của tạo hoá là chiếc chìa khoá của thân thể con người. Người làm châm cứu phải biết được điều này để ứng dụng.

Các Dương khí đều ở tại chỗ can thuộc kinh lạc các Âm khí đều ở tại chỗ sâu tại tạng phủ, cho nên việc bổ tả phải dựa theo hô và hấp để xuất (rút ra) hoặc nội (châm vào). Nếu muốn châm:

  • Bổ: đợi lúc hô tức là khí xuất ra ngoài thì châm vào, đợi lúc hấp tứ là khí nhập vào thì rút kim ra.

  • Tả: đợi lúc hấp tức là khí nhập vào thì châm vào, đợi lúc hô, tức là khí xuất ra thì rút kim ra.

Khí “hô” thì hơi thở không quá “Tam khẩu: 3 hơi” đó là vì bên ngoài khí đi theo tam tiêu (Dương), khi “hấp” thì hơi thở không quá “Ngũ khẩu: 5 hơi”, đó là vì bên trong khí đón theo khí của ngũ tạng (Âm).

“Tiên hô” và “Hậu hấp” thuộc “Âm trong Dương”. “Tiên hấp” và “Hậu hô” thuộc “Dương trong Âm”. Chúng ta phải tùy theo bệnh khí, âm Dương, hàn nhiệt để ứng dụng. Đây là 1 phương pháp rất sống động mà chúng ta không thể hành động sai lầm được.

Tóm lại:

  • Các kinh thuộc Tam âm: tiên hấp và hậu hô.

  • Các kinh thuộc Tam dương: tiên hô và hậu hấp.

6. Bổ tả theo “Khai hợp: Hở đóng”

  • Bổ: rút kim ra nhanh và rút 1 lần, dùng tay bít nhanh miệng của huyệt

  • Tả: rút kim ra chậm, đồng thời lắc kim để cho miệng kim rộng ra, không bịt miệng lỗ kim lại.

7. Bổ tả theo phép “mẹ con”.

  • Theo can: dựa vào đường kinh khai tương ứng với Thiên can, dùng phép bổ mẹ tả con.

  • Theo chi: dựa vào đường kinh khai tương ứng với Địa chi, dùng phép bổ mẹ tả con…

Cả hai phép trên đều được trình bày đầy đủ trong quyền: “Tý Ngọ lưu chú” của Huỳnh Minh Đức.

B - BỔ TẢ THEO PHƯƠNG PHÁP “PHỐI HỢP”

Thực sự, phương pháp này được vận dụng theo lối phối hợp các phép “đơn mà chúng ta đã nói trên.”

1. Bổ tả theo phép “Thiêu sơn hoả”.

a) Thủ pháp phối hợp: phương pháp Bổ tả này phối hợp với 3 phép “đơn”. Đó là: “Từ tật” chậm và nhanh. “Đẻ sáp:” rút lên và châm xuống nhiều lần 9 và 6…

b) Chủ trị: trị những chứng hàn.

c) Tác dụng: làm ấm dương khí.

d) Thao tác châm trị:

  • Sách châm cứu học Thượng hải trình bày: “Tam tiến nhất thoái. Khấn án (chama xuống nặng), mạn đề (rút lên nhẹ) thực hiện việc lên xuống này đúng 9 lần. Khi người bệnh thở ra tì chân kim vào, phải bít miệng kim lại… Thao tác này có thể làm cho “Dương khí” đi đi xuống sâu vào trong…”

  • Sách châm cứu Đại thành trình bày: “Phép Thiêu sơn hoả” có thể trừ được chứng hàn, và Châm gây được nhiệt trong người. Bảo người bệnh hít vào bằng mũi 1 lần, và thở ra bằng miệng 5 lần.

  • Sách Thái ất thần châm cứu trình bày: “Trước hết nên chọn huyệt thích hợp, tốt nhất là những huyệt nằm những nơi cơ nhục đầy. Đầu, ngực và lưng, hoặc ở những nơi đầu của ngón tay chân, các huyệt này đều không thích hợp châm theo pháp này.”

Ta chia việc châm làm nhiều lớp. Ví dụ huyệt khoảng 1 thốn rưỡi, trước hết ta châm vào 5 phân gọi là Thiên bộ, xong ta lại châm sâu vào sâu 1 thốn 5 phân gọi là Địa bộ.

Sau khi kim châm vào lớp da, từ lớp da này ta châm sau vào 5 phân (Thiên bộ). Nơi đây đã ứng dụng phép bổ theo “Đề sáp: lên xuống”, tức là châm xuống nặng và rút lên nhẹ 5 lần. Khi châm vào Nhân bộ ở độ sâu 1 thốn, cũng lên xuống kim 9 lần như trên sau cùng, châm sâu xuống đến Địa bộ khoảng 1 thốn 5 phân, và cũng lên xuống kim 9 lần như vậy.

Nếu cần, ta lại kéo kim lên đến Thiên bộ trở lại như lần đầu để tiếp tục thao tác như cũ… Ta lập đi lập lại như vậy có thể đến 3 lần cho đến khi người bệnh cảm thấy ở đầu kim cảm giác nóng mới thôi. Khi rút kim ra, ta nên mau mau bịt kín vết châm lại.

Thủ pháp này có thể bổ trợ khí thuần dương, nhằm trị được các chứng hàn, tý, tứ chi, quyết lãnh, mạch phục tàng, đó là những chứng hư hàn và dương khí bị hư suy.

2. Bổ tả theo phép “Thấu Thiên lương”.

a) Thủ pháp phối hợp: thủ pháp này gồm các phép “đơn” “từ tật”, “đề sáp”, “cửu lục” và “khai hợp” tất cả hợp lại mà thành.

b) Chủ trị: trị những chứng nhiệt

c) Tác dụng: tả hoá khí

d) Thao tác châm trị:

  • Sách châm cứu học Thượng hải trình bày: “Nhất tiến cam thoái, Khẩn đề (rút kim ra thật nhanh) mạn án (châm xuống thật chậm). Thực hiện việc lên xuống này đúng 6 lần. Khi người bệnh hít vào thì châm kim vào, khi người bệnh thở ra, thì rút kim ra. Khi rút kim ra, không bịt vết châm của kim… Thao tác này có thể làm cho “âm khí đi lên, ra ngoài”…”

  • Sách châm cứu Đại Thành trình bày: “Phép” Thấu Thiên lương” có thể trừ được chứng nhiệt. Châm vào có thể gây được hàn trong người. Bảo người bệnh hít vào bằng miệng 1 lần, thở ra bằng mũi 5 lần.

  • Sách Thái ất Thần châm cứu trình bày: “Trước hết châm kim sâu vào đến Địa bộ, xong rồi làm 3 giai đoạn để rút kim ra từ Địa, đến Nhân rồi đến Thiên bộ. Ví dụ: địa bộ sâu 1 thốn 5 phân, châm xong rồi dùng phép: “Tả” châm vào nhẹ, rút ra nhanh, lên xuống đúng 6 lần, xong rồi rút lên đến Nhân bộ (sâu 1 thốn). Lên xuống 6 lần, rồi lại đến Thiên bộ… Thủ pháp này có thể lập lại đến 3 lần, chừng nào người bệnh có cảm giác lạnh dưới đầu kim thì thôi. Khi rút kim, nên lắc kim cho vết kim to ra. Thủ pháp này có thể trị liệu 1 số chứng bệnh thuộc thực nhiệt.

3. Bổ tả theo phép “Thanh long bãi vĩ”

a) Thủ pháp phối hợp: Đây là phương pháp phối hợp phép “hành khí”, “bổ khí” và “cửu số”…

b) Chủ trị: Trị kinh khí bị ủng tắc, huyết trệ…

c) Tác dụng: Hành khí, thông quan tiết, vận hành khí huyết

d) Thao tác châm trị:

  • Sách châm cứu học Thượng hải trình bày: “sau khi châm vào đắc khí, châm xiên kim đến nơi bệnh, không tiến không thoái không xoay, vê kim, cầm chuôi kim lắc qua lại, như bơi chèo 9 lần hoặc 3 lần 9 thành 27 lần”.

  • Sách châm cứu Đại Thành trình bày: “Thủ pháp Thương (thanh) long bãi vĩ thuộc châm bổi… nắm lấy kim nhe chèo mái chèo sang 2 bên tả hữu…”

  • Sách Thái ất Thần châm cứu trình bày: “Khi châm và từ Thiên bộ đến Nhân bộ, nếu đắc khí thì đầu kim có cảm giác trầm khẩn, rút kim về vị trí Thiên bộ. Nếu như có bộ vị cạn và đắc khí thì không cần rút kim thêm lần nữa. Ta dùng tay đè nghiêng kim, mũi kim hướng về nơi có bệnh, không tiến không thoái, không vê tay, nắm chuôi kim lắc như mái chèo rất chậm sang 2 phái tả hữu 9 lần, có thể lên đến 3 lần 9 là 27 lần. Nếu vẫn chưa đạt được kết quả, có thể lên đến 9 lần 9 là 81 lần. Phép châm này có thể bổ cho chứng khí hư trệ.

4. Bổ tả theo phép “Bạch hổ dao đầu”

a) Thủ pháp phối hợp: đây là phương pháp châm kết hợp giữa “hô hấp”, “đề sáp”, “xoay”, “vê”, “hành khí”, “lắc kim”, “lục số”…

b) Chủ trị: trị kinh khí bị ủng tắc, huyết trệ…

c) Tác dụng: hành huyết, thông quan tiết, vận hành khí huyết

d) Thao tác châm trị:

  • Sách châm cứu học Thượng hải trình bày: “lúc châm vào thì xoay kim sang trái, cứ 1 lần hô “thở ra”: thì lắc kim 1 lần, lúc rút kim lên thì xoay sang phải, cứ 1 “hấp-hít vào” thì lắc kim 1 lần. Thao tác 6 lần hoặc 3 lần 6 là 18 lần”.

  • Sách châm cứu Đại Thành trình bày: “Đây là phương pháp phối hợp giữa thao tác “xoay vê kim” và “đề sáp”. Khi châm kim vào huyệt đạt đến độ sâu thích hợp phải xoay kim sang trái, sau xoay kim sang phải, không dùng tay lắc chuông sang tả hữu.

Thao tác này có khác với “Thanh long bãi vĩ”, ở Thanh long thì kim phải nằm ở độ xiên, ở Bạch hổ thì châm thẳng vào, tốc độ lắc và vê tương đối nhanh hơn. Trong khi thực hiện thao tác nếu muốn khí lên trên thì ta dùng ngón tay ấn vào bên dưới đường kinh ngang với huyệt, nếu muốn khí xuống dưới thì ta dùng ngón tay ấn vào bên trên đường kinh vận hành. Nhân vì “hổ” thuộc Âm, cho nên phép này có công hiệu hành huyết, thiên về châm tả.

5. Bổ tả theo phép “Xích phụng nghênh nguyên”

a) Thủ pháp phối hợp: đây là phương pháp châm kết hợp giữa “hô hấp”, “đề sáp” và “xoay kim”…

b) Chủ trị: trị kinh khí bị ủng tắc, thông lạc…

c) Tác dụng: hành lạc mạnh, thông quan tiết, vận hành khí huyết

d) Thao tác châm trị: chim phương đỏ đón nguồn

  • Sách châm cứu học Thượng hải trình bày: “Trước hết châm đến Địa bộ, sau đó rút kim lên đến Thiên bộ, đợi đắc khí xong lại châm xuống Nhân bộ, xoay kim lên xuống từ trên xuống dưới từ tả sang hữu với tốc độ nhanh…Khi bệnh ở phần trên thì đợi bệnh nhân hít vào thì xoay sang phải và rút kim lên, khi bệnh ở phần dưới thì đợi bệnh nhân thở ra thì xoay kim sang trái và châm kim và.”

6. Bổ tả theo phép “Thương quy tám huyệt”

a) Thủ pháp phối hợp: đây là phương pháp châm kết hợp giữa “nhanh chậm”, “hướng kim hành khí”…

b) Chủ trị: thông kinh lạc, huyết trệ…

c) Tác dụng: lưu hành kinh mạch, thông quan tiết, …

d) Thao tác châm trị: rùa xanh dò huyệt:

  • Sách châm cứu học Thượng hải trình bày: “châm kim xiên tả hữu trên dưới, từ cạn đến sâu, đều theo phép Tam tiến nhất thoái”.

  • Sách Thái ất thần châm cứu trình bày “Thao tác này nhằm đạt đến mục đích là Hành khí”.

  • Khi châm, trước hết châm từ cạn xuống sâu (Thượng xuống hạ) từ trái sang phải, chia làm 3 bộ xuống chậm lên mau. Mỗi lần thay đổi nên kéo kim lên đến dưới da rồi mới đổi hướng. Thao tác này giống như con rùa xuống hang đất vì thế mới có tên là “Rùa xanh dò huyệt”. Thủ pháp này có thể có tác dụng làm bổ xung nguyên khí của kinh mạch và cũng vì mũi kim xoay nhiều hướng cho nên nó cũng có tác dụng làm cho khí của kinh mạch được sơ thông”.

7. Bổ tả theo phép “Long hổ giao chiến”

a) Thủ pháp phối hợp: Thủ pháp này gồm có các phép “đơn” như “xoay kim, cửu lục”…

b) Chủ trị: Trị các chứng đau nhức

c) Tác dụng: Làm sơ thông kinh khí, chỉ thống

d) Thao tác châm trị: Rồng và cọp giao chiến:

  • Sách Châm cứu học Thượng hải trình bày: “Xoay kim sang trái 9 lần, xoay kim sang phải 6 lần, cứ thế mà lập lại nhiều lần. Nếu cần có thể áp dụng phép châm 3 lớp Thiên, Địa, Nhân”.

  • Sách Thái ất thần châm cứu trình bày “Phàm khi dụng châm, trước hết thi hành phép “tả long” xoay tả theo phép thanh long “tức là xoay về tả đúng 9 lần theo như Dương số (lẻ). Sau đó theo phép ”hữu hổ”: xoay hữu theo phép “bạch hổ”, tức là xoay về hữu 6 lần theo như số âm (chẵn). Đó là phép châm “cuộc chiến giữ viên long hậu hổ”, giống như phép âm trung ấn Dương, Dương trong ẩn âm”…

  • Sách Thái ất thần châm cứu trình bày: “Sau khi tiến châm đắc khí, trước hết xoay kim sang trái 9 lần (bổ) sau đó xoay kim sang phải 6 lần (tả) cứ thế mà lặp đi lặp lại nhiều lần. Nếu như bệnh tình khá nặng ta có thể áp dụng phép châm theo thiên, địa, nhân để châm…Thủ pháp này áp dụng cả bổ lẫn tả có thể điều hoà khí doanh vệ làm sơ thông kinh khí, làm đau nhức kịch liệt’’.

8. Bổ tả theo phép “Long hổ thăng giáng”

a) Thủ pháp phối hợp: đây là phương pháp châm phối hợp giữa “từ tật, để sáp”, “cửu lục”, “xoay tròn”, “búng kim”, “đề ép”

b) Chủ trị: trị chứng âm dương bị thất điệu, doanh vệ bất hoà

c) Tác dụng: sơ thông kinh khí, điều hoà âm dương

d) Thao tác châm trị: rồng và cọp thăng giáng.

  • Sách Châm cứu học Thượng hải trình bày: “Trước hết châm kim vào Thiên bộ, xoay kim: quay một vòng tròn về hướng tả xong chầm chậm xuống nhân bộ rồi rút lên đến Thiên bộ lại xoay một vòng tròn về hướng hữu, làm như thế 9 lần. Sau đó ta châm kim xuống đến địa bộ, ta lại xoay kim sang hữu một vòng tròn sau đó rút kim lên nhanh và đẩy kim xuống chậm, lại xoay kim sang trái một vòng tròn làm như thế đúng 6 lần. Sau cùng dung phép búng vào kim, ta dùng tay đè vào phía trước để khí đi về phía sau, dùng tay đè vào phía sau để khí đi về phía trước”.

9. Bổ tả theo phép “Tý ngọ đảo cứu”

a) Thủ pháp phối hợp: Đây là phương pháp châm phối hợp giữa “xoay vê kim”, “đề sáp”, “cửu lục”, …

b) Chủ trị: Chứng thủy cổ trướng

c) Tác dụng: điều hoà âm dương, sơ thông kinh khí

d) Thao tác châm trị: giã cối theo hướng tý ngọ.

  • Sách châm cứu học Thượng hải trình bày: “Khi châm trước hết châm xuống nhanh, rút kim châm, xoay trái 9 lần, sau đó rút lên nhanh, châm xuống chậm, xoay phải 6 lần, lặp lại nhiều lần”.

  • Sách châm cứu Đại thành trình bày: “phép châm Tý Ngọ đảo hữu” trị chứng thủy cổ, cách khí. Sách này đưa ra bài thơ:

Tý ngọ đảo cứu

Thương hạ châm hành

Cửu thập lục xuất

Tả hữu bất đình

Định nghĩa: Phép châm Tý Ngọ đảo cứu (giã cối theo hướng Tý Ngọ) tức là châm rồi xuống dưới, châm vào xoay kim 9 lần, rút ra xoay kim 6 lần, xoay trái xoay phải không ngừng.

  • Sách Thái Ất châm cứu trình bày “Phàm sau khi châm đã đắc khí, trước hết xoay kim hướng tả 9 lần ngưng lại, một chút, xong rút kim lên để xoay qua hữu 6 lần, lặp lại nhiều lần như thế, khi đạt đến 1 độ số thích đáng thì dưới kim thấy lơi lỏng, nên rút kim ra. Thủ pháp này có thể dẫn đạo khí âm dương thích ứng với thủy cổ cách khí, thông lợi kinh khí.”

10. Bổ tả theo phép “Dương trung ẩn âm”

a) Thủ pháp phối hợp: đây là phương pháp châm phối hợp giữa nhanh chậm “đề sáp”, “cửu lục”.

b) Chủ trị: trị chứng tiên hàn hậu nhiệt, hoặc trong hư có thực

c) Tác dụng: tiên bổ hậu tả.

d) Thao tác châm trị: trong dương có ẩn âm.

  • Sách châm cứu học Thượng hải trình bày: “Trước hết châm kim sâu 5 phân, xong dùng phép châm xuống nhanh, rút lên chậm 9 lần, sau đó châm xuống sâu 1 thốn, lại châm xuống chậm, rút lên nhanh 6 lần”.

  • Sách châm cứu Đại thành trình bày: “Dương trung ẩn âm” trị được chứng tiên hàn hậu nhiệt… Khi dụng châm, trước hết sâu vào 5 phân, rồi áp dụng theo: “cạn sâu” 9 lần của Dương số, như cảm thấy dưới kim hơi nhiệt liền châm sâu xuống 1 thốn lại châm sâu theo “cạn sâu” 6 lần Âm số để cho khắc khí. Đây là phép châm “Dương trung ẩn âm” có thể trị chứng tiên hàn hậu nhiệt, tiên bổ hậu tả.”

  • Sách Thái Ất châm cứu trình bày “Trước hết châm vào 5 phân, theo phép “cửu số” tức là ngón tay cái ra trước ngón tay trỏ ra sau, xoay vê 9 lần chầm chậm. Khi dưới kim hơi có nhiệt, lại châm sâu xuống 1 thốn, xoay kim theo hướng ngón cái lui ra sau và ngón trỏ tới trước 6 lần, lập lại như vậy nhiều lần. Nếu bệnh tình lâu ngày, nên áp dụng theo Thiên, Nhân, Địa”.

Như vậy ta thấy sách Thái ất trình bày có khác với sách Thượng hải: một đằng tiến kim theo hướng lên xuống 9 và 6 lần, một đăng xoay kim phải trái 9 và 6 lần.

11. Bổ tả theo phép “âm trung ẩn Dương”

a) Thủ pháp phối hợp: đây là phương pháp châm phối hợp giữa “nhanh chậm”, “đề sáp”, “Cửu lục”.

b) Chủ trị: trị các chứng “tiên nhiệt, hậu hàn” hoặc trong thực có hư.

c) Tác dụng: tiên tả hậu bổ

d) Thao tác châm trị: trong âm có ẩn dương

  • Sách châm cứu học Thượng hải trình bày: “Trước hết châm kim sâu xuống 1 thốn, châm xuống chậm, rút lên nhanh 6 lần sau đó rút kim lên đến 5 phân lại” châm xuống nhanh, rút lên chậm 9 lần.”

  • Sách châm cứu Đại thành trình bày: “Trị bệnh nhiệt, hậu hàn, sâu trước cạn sau…”

  • Sách Thái ất thần châm cứu trình bày “Phép châm Âm trung ẩn Dương này thường dùng phối với “Dương trung ẩn âm”, đây là phép “Trong tả có lần bổ”. Trước hết nên châm vào sâu 1 thố, dùng phép “đề sáp” lên xuống “để châm tả, châm xuống, rút lên nhanh 6 lần, sau khi đắc khí, rút kim lên sâu 5 phân, cũng dùng phép châm xuống nhanh, rút lên chậm 9 lần, lập lại nhiều lần, phép này chủ trị nhiệt hậu hàn, thực hư lẫn nhau”.

12. Bổ tả theo phép “Bình bổ bình tả”

Sách Thái ất thần châm cứu trình bày “phép này được áp dụng trong các chứng bệnh hư thực lẫn lộn. Khi châm, ta vê kim để châm vào, ta vê nhẹ cả tả lẫn hữu, lưu kim 1 thời gian, sau đó cũng vê kim để rút kim, không làm thêm 1 thủ thuật bổ tả nào khác cả.”

Chuyên mục: , , ,