Hiển thị các bài đăng có nhãn Nội khoa. Hiển thị tất cả bài đăng

14 thg 3, 2013

Sách: Bệnh học tim mạch

Chia sẻ bài viết này:
Bệnh học tim mạch (Sách gồm 3 Tập)
Tác giả : Phạm Nguyễn Vinh
Nhà xuất bản : NXB Y Học
Giá bán 1 tập: 200k. Có bán tại các hiệu sách
“Bệnh tim mạch là một trong những bệnh hàng đầu của con người tại các nước phát triển và cả những nước đang phát triển. Trong thế kỷ qua, nhờ sự đầu tư nghiên cứu tích cực, hiểu biết về loại bệnh này ngày càng sâu rộng hơn. Rất nhiều sách, tạp chí trình bày các hiểu biết về các nghiên cứu sâu tronglĩnh vực này. Các nghiên cứu về tim mạch không chỉ trong lĩnh vực nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng, các nghiên cứu quan sát mà còn các nghiên cứu cơ bản. Bộ sách Bệnh học tim mạch nà là thành quả của nhiều thầy thuốc thự hành tim mạch trong cả nước, bao gồm các Bác sĩ lâm sàng và Bác sĩ cận lâm sàng. Mục tiêu của bộ sách là trình bày một cách có hệ thống sự hiểu biết về lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh lý tim mạch. Bộ sách bao gồm 3 tập đề cập đến các vấn đề tim mạch cần thiết cho người thầy thuốc tim mạch, thầy thuốc nội khoa, các sinh viên Y khoa và các điều dưỡng.”
Dowload sách: dạng pdf
Tập 1: Link
Tập 2: Link
Chuyên mục: , , , ,

25 thg 2, 2013

Suy tĩnh mạch chi dưới và cách điều trị

Chia sẻ bài viết này:

Suy giãn tĩnh mạch chân không nguy hiểm đến tính mạng, chỉ gây khó chịu, đau đớn và mất thẩm mỹ, cản trở sinh hoạt. Tuy nhiên, biến chứng của bệnh này là sự hình thành các cục máu đông trong lòng tĩnh mạch, các cục máu này có thể gây tắc mạch máu tại chỗ hoặc di chuyển theo dòng máu và gây tắc mạch chỗ khác, trong đó nguy hiểm nhất là tắc mạch phổi, có thể dẫn đến suy hô hấp và tử vong.
Vì sao mắc bệnh?
Bệnh suy giãn tĩnh mạch chi chưa được xác định rõ ràng nguyên nhân. Tuy nhiên, một số yếu tố nguy cơ suy giãn tĩnh mạch chân gây ra do tổn thương chức năng các van một chiều của hệ tĩnh mạch ngoại biên đã được xác nhận như: quá trình thoái hóa do tuổi tác; do tư thế sinh hoạt hay làm việc phải đứng hay ngồi một chỗ lâu, ít vận động, phải mang vác nặng... tạo điều kiện cho máu bị dồn xuống hai chân, làm tăng áp lực trong các tĩnh mạch ở chân, lâu ngày sẽ gây tổn thương các van tĩnh mạch một chiều. Khi các van này bị suy yếu sẽ giảm khả năng ngăn chặn luồng máu chảy ngược xuống dưới do tác dụng của trọng lực, dẫn đến ứ máu ở hai chân; các yếu tố nguy cơ như: chế độ làm việc (phải đứng nhiều, làm việc trong môi trường ẩm thấp), béo phì, chế độ ăn ít chất xơ và vitamin...

Suy tĩnh mạch chi dưới và cách điều trị 1
 Hình ảnh giãn tĩnh mạch nổi trên da.

Dấu hiệu nhận biết

Ở giai đoạn đầu, các triệu chứng của bệnh suy tĩnh mạch chi dưới thường mờ nhạt và thoáng qua, người bệnh có biểu hiện: đau chân, nặng chân, mỏi chân, phù nhẹ khi đứng lâu ngồi nhiều, vọp bẻ, chuột rút vào buổi tối, châm chích, dị cảm như kiến bò vùng cẳng chân về đêm. Những triệu chứng này thường không rõ ràng nên người bệnh ít chú ý và dễ bỏ qua.
Giai đoạn tiến triển bệnh sẽ gây phù chân, có thể phù ở mắt cá hay bàn chân, đôi khi người bệnh chỉ có cảm giác mang giày dép chật hơn bình thường. Vùng cẳng chân xuất hiện chàm da, thay đổi màu sắc da do máu ứ ở tĩnh mạch lâu ngày làm rối loạn biến dưỡng. Các tĩnh mạch trương phồng lên gây cảm giác nặng, đau nhức chân, máu thoát ra ngoài mạch gây phù chân, nặng hơn thì có thể thấy các búi tĩnh mạch trương phồng nổi rõ trên da, các mảng bầm máu trên da...
Các tĩnh mạch giãn to nếu không được điều trị, lấy bỏ sẽ có nguy cơ tạo lập cục máu đông, gây viêm tĩnh mạch nông huyết khối. Các cục máu đông tạo lập trong lòng mạch có thể bong ra, theo dòng máu trôi ngược lên phổi, làm tắc mạch phổi, nguy cơ tử vong cao. Các tĩnh mạch giãn to dần, đến một lúc nào đó sẽ bị vỡ khi chấn thương hay va chạm nhẹ, gây xuất huyết, bầm máu. Sự rối loạn biến dưỡng da ở cẳng chân lâu ngày sẽ dẫn đến chàm, tăng sắc tố da và loét chân do ứ đọng. Tình trạng loét chân do tĩnh mạch là một biến chứng rất khó điều trị.

Suy tĩnh mạch chi dưới và cách điều trị 2
 Tĩnh mạch bình thường và tĩnh mạch bị suy.

Có cách nào điều trị?

Có 3 biến chứng mà người mắc bệnh suy và giãn tĩnh mạch chân có thể gặp phải là huyết khối (máu đông), xuất huyết (chảy máu) và loét chân.
Việc điều trị bệnh suy tĩnh mạch mạn tính chi dưới đòi hỏi sự kết hợp giữa dùng thuốc, phẫu thuật và vật lý trị liệu tại các trung tâm chuyên sâu về bệnh này.
Điều trị nội khoa với các thuốc làm bền thành mạch nhưng phần lớn chỉ có tác dụng trong giai đoạn đầu của giãn tĩnh mạch. Một số thầy thuốc còn áp dụng phương pháp tiêm gây xơ tại chỗ với các thuốc làm xơ hóa lòng mạch máu.
Phẫu thuật bằng phương pháp Stripping lấy bỏ các tĩnh mạch nông bị giãn bằng một dụng cụ chuyên dùng cho phép rút các tĩnh mạch và phương pháp Chivas lấy các đoạn tĩnh mạch bị giãn của hệ thống xuyên, đây là phương pháp điều trị khá triệt để, có tỷ lệ tái phát thấp. Phương pháp làm lạnh với nitơ lỏng -90oC để làm nghẹt lòng tĩnh mạch qua một ống thông trong lòng tĩnh mạch. Phương pháp này cho tỷ lệ tái phát khá cao. Ngoài ra, hiện nay người ta còn áp dụng phương pháp can thiệp nội mạch loại bỏ tĩnh mạch suy bằng tiêm chất tạo bọt; điều trị bằng laser.
Một phương pháp mới được Viện Tim mạch Quốc gia và Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM bắt đầu ứng dụng trong năm 2012 là loại bỏ tĩnh mạch suy bằng năng lượng sóng có tần số radio. Đây là một phương pháp có nhiều ưu điểm, hơn hẳn các phương pháp kinh điển, bởi phương pháp này có tỷ lệ thành công rất cao, điều trị triệt để được tĩnh mạch bị suy, an toàn và ít tai biến.
Cách phòng ngừa bệnh
Suy giãn tĩnh mạch là bệnh lý mang tính xã hội, liên quan nhiều đến chế độ ăn uống và làm việc. Vì vậy, khuyến cáo chung là nên tránh đứng lâu, ngồi nhiều, nhất là nhân viên văn phòng, không nên ngồi làm việc một chỗ liên tục trong suốt buổi làm việc, tranh thủ giải lao, đi lại vận động vài phút trong khoảng thời gian làm việc từ 30 - 60 phút. Trong lúc ngồi làm việc, có thể phối hợp các bài tập vận động chân như co duỗi các ngón chân, gập duỗi cổ chân, nhón gót... để máu lưu chuyển tốt hơn. Ăn nhiều rau quả, chất xơ, vitamin. Nên tập thể dục để giảm cân như: bơi lội, đi xe đạp, tập dưỡng sinh.
PGS.TS. Đinh Hương
Chuyên mục: , , ,

29 thg 12, 2012

Viêm não

Chia sẻ bài viết này:

Viêm não (encephalitis), một tình trạng viêm của nhu mô não, biểu hiện bằng sự rối loạn chức năng thần kinh-tâm thần khu trú hoặc lan tỏa. Trên phương diện dịch tễ học cũng như sinh lý bệnh, viêm não được phân biệt với viêm màng não thông qua khám xét lâm sàng và cận lâm sàng mặc dù hai thể bệnh này điều có những triệu chứng của tình trạng viêm màng não như sợ ánh sáng, nhức đầu hay cứng cổ. Viêm não hiểu theo nghĩa đen thì đó là “tình trạng viêm của não”, nghĩa là có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau, tuy nhiên thuật ngữ viêm não thường được hiểu là tình trạng viêm não gây nên do virus. Đây là một tình trạng bệnh lý nặng nề đe dọa tính mạng bệnh nhân.

Viêm não có thể biểu hiện dưới hai thể khác nhau: thể tiên phát và thể thứ phát. Viêm não tiên phát thường nặng nề hơn trong khi viêm não thứ phát thường gặp hơn. Tuy nhiên do thể thứ phát thường nhẹ nhàng hơn nên trong số các trường hợp nhập viện, viêm não tiên phát chiếm đa số.

I. NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH VIÊM NÃO:

Nguyên nhân của viêm não thường gặp nhất là nhiễm virus. Một số ví dụ điển hình là do herpes virus; do arbovirus lây truyền do muỗi, bét hoặc các côn trùng khác; bệnh dại gây nên do vết cắn của một số động vật nhiễm bệnh như chó, mèo.

Viêm não có hai thể phân theo phương thức virus sử dụng gây nhiễm trùng ở hệ thần kinh trung ương:

Viêm não tiên phát: Viêm não này xuất hiện khi virus trực tiếp tấn công não và tủy sống (tủy gai). Thể viêm não này có thể xuất hiện vào bất cứ thời gian nào trong năm (viêm não tản phát: sporadic encephalitis) hoặc có thể xuất hiện theo mùa đôi khi thành dịch (viêm não dịch tễ: epidemic encephalitis).

Viêm não thứ phát (viêm não sau nhiễm trùng (post-infectious encephalitis): Hình thức viêm não này xuất hiện khi virus gây bệnh ở một số cơ quan khác bên ngoài hệ thần kinh trung ương và sau đó mới ảnh hưởng đến hệ này.

Tương tự, các bệnh lý nhiễm khuẩn cũng đôi khi gây nên viêm não như bệnh Lyme hoặc một số nhiễm ký sinh trùng cũng có thể gây viêm não như trong trường hợp Toxoplasma (ở những bệnh nhân suy giảm miễn dịch) và thậm chí cả giun nữa.

Sau đây là một số nguyên nhân gây viêm não thường gặp:

Nguyên nhân do các Arbovirus

Virus này được lây truyền thông qua muỗi và bét là những động vật chân đốt (arthropod) nên có tên là arbovirus (Arthropod-borne virus).  Các virus này là nguyên nhân thường gặp nhất của viêm não dịch tễ. Trong những năm gần đây, viêm não dịch tễ chiếm số lượng bệnh viêm não cao nhất trong các công trình nghiên cứu đã được công bố. Ở Việt nam, điển hình là viêm não Nhật bản thường xuất hiện vào mùa hè khi mà lượng muỗi trong môi trường sống đạt mật độ cao nhất trong năm.

Các sinh vật truyền bệnh từ một cơ thể vật chủ này sang một vật chủ khác được gọi làvector truyền bệnh. Muỗi là một vector truyền bệnh quan trọng, đặc biệt là tryền virus từ chim và các động vật gặm nhấm sang người. Một điều đáng lưu ý là khi muỗi chích các động vật máu nóng (trong đó có người) thì trước khi hút máu chúng phải bơm nước bọt có chứa chất chống đông máu vào để thuận lợi cho quá trình hút máu. Tuy nhiên nếu muỗi này đã có chứa virus gây bệnh thì virus cũng theo nước bọt bơm vào đó để đi vào hệ tuần hoàn động vật bị hút máu.

Các loài chim sống trong khu vực có nhiều nguồn nước đứng như các ao, hồ, đầm lầy thường dễ nhiễm virus gây viêm não. Khi chim nhiễm virus viêm não, lượng virus trong máu của chúng tồn tại ở mật độ rất cao trước khi chim lành bệnh và xuất hiện miễn dịch chống bệnh. Nếu muỗi hút máu chim trong giai đoạn này thì chúng sẽ trở thành vector mang bệnh suốt đời. Chính muỗi mang virus gây bệnh này khi hút máu một con chim lành khác thì sẽ truyền vurus cho chim này và rồi có thể chim này lại chuyển virus gây bệnh cho một con muỗi khác nữa. Chính nhờ quá trình này mà virus được lưu hành rộng rãi trong quần thể các loài chim.

Thông thường thì phương thức truyền virus trên đây không ảnh hưởng gì đến sức khỏe của cả muỗi và chim và cũng không gây nguy hiểm cho con người. Một phần là do muỗi thường chỉ thích hút máu các loài chim và các động vật có vú nhỏ. Người chỉ là một lựa chọn thứ hai. Tuy nhiên trong điều kiện môi trường thay đổi như thời tiết bất thường hay thay đổi khí hậu, lượng chim nhiễm bệnh và lượng muỗi tăng lên rất nhiều. Trong những rường hợp như thế, người sẽ đứng trước nguy cơ nhiễm bệnh cao hơn.

Ở Việt nam, Viêm não Nhật bản B là một đe dọa sức khỏe cộng đồng, đặc biệt là trẻ em vào mùa hè. Xin xem thêm bài chính Viêm não Nhật bản.

Một số các arbovirus gây viêm não được đề cập trong y văn gồm:

  • Viêm não ngựa miền Đông(Eastern equine encephalitis): Như tên bệnh cho biết, viêm não này xuất hiện chủ yếu ở ngựa, ít gặp ở người và thường gặp ở khu vực miền Đông Hoa Kỳ. Bệnh có thể xảy ra quanh năm nhưng thường nhất là vào mùa hè. Virus này thường hiện diện ở các laòi chim sống trong các đầm nước ngọt. Viêm não thường nặng nề và gây tử vong. Bệnh thường xảy ra 10 ngày sau khi bị muỗi đốt.
  • Viêm não ngựa miền Tây(Western equine encephalitis): Hầu hết các báo cáo về bệnh này xảy ra ở bình nguyên miền Tây Hoa Kỳ. Các loài chim sống trên các cánh đồng có hệ thống thủy lợi hoặc trên các trang tại thường nhiễm virus. Bệnh xảy ra chủ yếu ở ngựa, hiếm gặp ở người. Thường cao điểm vào tháng Sáu và tháng Bảy. Bệnh nhẹ hơn người chị em của nó ở miền Đông tuy nhiên trẻ nhỏ mắc bệnh sẽ biểu hiện nặng nề.
  • Viêm não St. Louis(St. Louis encephalitis): Bệnh này cùng từ chim lan sang muỗi. Người già mắc bệnh nặng hơn. Tỷ lệ tử vong khoảng từ 2 đến 20%.
  • Viêm não La Crosse(La Crosse encephalitis): La Crosse là nơi phát hiện viêm não này lần đầu tiên vào năm 1963. Bệnh thường gặp ở trẻ em.
  • Viêm não Tây sông Nile(West Nile encephalitis). Bệnh lưu hành ở châu Phi, Trung Đông, một phần châu Âu, Nga, Ấn độ và Indonesia. Bệnh phát hiện ở Hoa Kỳ lần đầu tiên vào năm 1999. Cũng giống như các arbovirus khác, virus gây viêm não Tây sông Nile có ổ chứa là chim và vector truyền bệnh là muỗi tuy nhiên trong một số hiếm trường hợp, bệnh lây truyền qua truyền máu hay ghép tạng  hay cho bú. Bệnh thường nhẹ nhưng cũng có thể trầm trọng nếu bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch.
Herpes virus

Một số virus thuộc họ này thường gây những bệnh lý thông thường thì cũng có thể gây viêm não:

  • Virus herpes simplex: Có hai type herpes simplex virus (HSV) là HSV type 1 và HSV type 2. HSV type 1 thường gây bệnh ở miệng tạo thành các vết loét rất đau hoặc các mụn rộp xung quanh miệng (dân gian hay gọi là chứng nhiệt). HSV type 2 thường gây bệnh ở cơ quan sinh dục. HSV-1 gây viêm não tản phát. Phụ nữ mang thai nhiễm HSV đường sinh dục có thể truyền virus cho con lúc sinh gây nên bệnh cảnh viêm não cực kỳ nặng nề với tỉ lệ tử vong rất cao.
  • Virus varicella-zoster: Virus này gây nên bệnh thủy đậu (bệnh xuất hiện trong nhiễm trùng tiên phát) và bệnh dời leo (do sự tái hoạt động của virus trong cơ thể). Virus này có thê gây nên viêm não và có thể đưa đến tử vong.
  • Virus Epstein-Barr: Virus này gây nên chứng tăng bạch cầu đơn nhân nhiễm trùng (infectious mononucleosis). Virus có thể gây viêm não và thường nhẹ tuy nhiên trong một số trường hợp có thể đưa đến tử vong.
Các bệnh nhiễm trùng thông thường ở trẻ em gây viêm não

Trong một số trường hợp hiếm gặp, viêm não thứ phát có thể xuất hiện sau khi trẻ mắc một số bệnh nhiễm trùng thường gặp, bao gồm:

  • Sởi
  • Quai bị
  • Sởi Đức

Trong những trường hợp này, viêm não có thể là do đáp ứng quá mẫn, một đáp ứng quá mức của hệ miễn dịch đối với các chất lạ. Tuy nhiên trong bệnh sởi, ngoài viêm não do quá mẫn (xuất hiện khá sớm sau sởi) thì còn biến chứng viêm não xơ hóa bán cấp tiến triển do virus cư trú trong tế bào thần kinh trung ương

Các enterovirus (virus ruột)

Các enterovirus cũng có thể gây nên viêm não nặng nề như enterovirus 71 ngoài biểu hiện nhẹ của nó là bệnh tay chân miệng.

Các yếu tố nguy cơ

Muỗi không phân biệt đối tượng khác nhau trong quần thể dân cư do vậy mọi người đều có thể mắc bệnh. Tuy nhiên có một số yếu tố gọi là yếu tố nguy cơ làm cho người đó có nhiều khả năng mắc bệnh hơn. Cũng nên nhớ là không phải tất cả mọi người nhiễm virus đều mắc bệnh.

  • Tuổi: Một số viêm não thường xuất hiện hơn và/hoặc nặng nề hơn ở trẻ em hoặc người già.
  • Suy giảm miễn dịch: Bệnh nhân suy giảm miễn dịch do bệnh hoặc do điều trị hoặc do ghép tạng có nguy cơ cao hơn.
  • Vùng địa lý: Vùng nhiệt đới thường có nguy cơ viêm não cao hơn, nhất là viêm não do các arbovirus.
  • Các hoạt động ngoài trời: Những người có hoạt động ngoài trời nhiều như làm vườn, chăn nuôi lợn, nghiên cứu chim, nghĩa là có nguy cơ tiếp xúc nhiều với muỗi sẽ dễ bị mắc bệnh hơn.
  • Mùa trong năm: Các tháng nóng ấm mùa hè là mùa sinh sản của chim và muỗi do đó các bệnh viêm não do arbovirus tăng cao hơn. Vào mùa đông xuân, viêm não do virus ruột có thể gặp nhiều hơn.

Sinh lý bệnh

Đường xâm nhập thay đổi tùy theo từng loại virus gây bệnh Có nhiều virus có thể lây truyền từ người sang người. Một số trường hợp viêm não lại do sự tái hoạt động của virus trong cơ thể như herpes simplex virus. Muỗi và các côn trùng truyền bệnh thông qua đường vào từ các vết đốt. Bệnh dại có đường vào từ các vết cắn của một số động vật. Với một số virus như varicella-zoster virus (VZV) và virus vùi hạt cự bào (cytomegalovirus:CMV) thì tình trạng suy giảm miễn dịch đóng một vai trò quan trọng trong sự phát sinh bệnh.

Thông thường thì virus nhân lên bên ngoài hệ thống thần kinh trung ương và đi vào hệ thống này hoặc bằng đường máu hoặc đi ngược theo các dây thần kinh (bệnh dại, herpes simplex virus và varicella-zoster virus) và đường khứu giác (herpes simplex virus). Nguyên nhân của các trường hợp viêm não chậm như viêm não xơ hóa bán cấp tiến triển (subacute sclerosing panencephalitis: SSPE) sau sởi, bệnh lý chất trắng đa ổ tiến triển (progressive multifocal leukoencephalopathy: PML) vẫn chưa được hiểu tường tận.

Một khi đã vượt qua được hàng rào máu-não, virus xâm nhập tế bào thần kinh gây nên rối loạn chức năng tế bào, xung huyết quanh mao mạch, xuất huyết, và đáp ứng viêm lan tỏa ảnh hưởng đến chất xám và chất trắng tuy nhiên chất xám bị ảnh hưởng nặng nề hơn. Bệnh lý não khu trú là hậu quả của tổn thương một vùng não nào đó do virus có ái tính cao với vùng này. Ví dụ herpes simplex virus thường ảnh hưởng đến thùy thái dương dưới và giữa.

Mặc dù các đặc điểm mô học là không đặc hiệu, sinh thiết não vẫn là tiêu chuẩn chính để chẩn đoán bệnh dại. Sự hiện diện của các thể Negri (Negri bodies) ở hồi hải mã (hippocampus) và tiểu não (cerebellum) là đấu hiệu chỉ điểm của bệnh. Trong viêm não do herpes simplex virus, các hạt vùi HSV Cowdry type A cùng với hiện tượng hoại tử xuất huyết thùy thái dương và thùy trán là dấu hiệu thường thấy.

Ngược lại với các bệnh lý ảnh hưởng trực tiếp đến chất xám kể trên thì các bệnh lý gây viêm não cấp lan tỏa hoặc viêm não tủy sau nhiễm trùng sau sởi, Epstein-Barr virus (EBV), và virus vùi hạt cự bào (CMV) thường là do đáp ứng miễn dịch gây nên tổn thương hủy hoại myeline đa ổ chất trắng xung quanh mạch máu

II. TRIỆU CHỨNG BỆNH VIÊM NÃO:

Dấu hiệu trong trường hợp viêm não thể nhẹ gồm:

hay chửi thề

Trong những trường hợp nặng hơn bệnh nhân có thể có sốt cao và kèm theo các tiệu chứng liên quan đến tổn thương hệ thần kinh trung ương bao gồm:

  • Nhức đầu dữ dội
  • Buồn nôn và nôn mửa
  • Cứng cổ
  • Lú lẫn
  • Mất định hướng
  • Thay đổi nhân cách
  • Co giật
  • Rối loạn nghe nói
  • Ảo giác
  • Mất trí nhớ
  • Đờ đẫn
  • Hôn mê

Ở trẻ nhỏ, các dấu hiệu trên không điển hình và khó phát hiện tuy nhiên vẫn có một số dấu hiệu quan trọng giúp định hướng chẩn đoán. Các dấu hiệu này bao gồm:

  • Nôn mửa
  • Thóp phồng (nếu còn thóp)
  • Khóc không thể dỗ nín hoặc khóc tăng lên khi trẻ được bồng lên hoặc làm thay đổi tư thế
  • Gồng cứng người

Vì viêm não có thể xuất hiện sau hoặc đi kèm với các chứng nhiễm virus nên đôi khi có những triệu chứng đặc trưng của các bênh này trước khi có viêm não. Tuy vậy, viêm não thường xuất hiện mà không có triệu chứng báo trước nào cả.

Chẩn đoán

Viêm não là một cấp cứu y khoa, do đó khi có bất cứ triệu chứng nghi ngờ nào như nêu trên thì cũng cần làm các xét nghiệm sau:

  • Chọc dịch não tủy: lấy dịch não tủy để xét nghiệm tế bào-vi trùng, hóa sinh hay virus học.
  • Chẩn đoán hình ảnh: như chụp cắt lớp điện toán (CT scan) hay chụp cộng hưởng từ (MRI) để phát hiện tình trạng phù nề, xuất huyết hay các bất thường khác của não
  • Điện não đồ(EEG): khảo sát hoạt động điện của não nhằm phát hiện các sóng bất thường.
  • Xét nghiệm máu: như công thức máu, xét nghiệm hóa sinh, xét nghiệm huyết thanh học nhằm phát hiện các kháng thể đặc hiệu chống lại bệnh hay phân lập virus.

III. ĐIỀU TRỊ VIÊM NÃO:

Điều trị viêm não cần được thực hiện tại bệnh viện có đủ phương tiện theo dõi cũng như can thiệp kịp thời. Điều trị gồm theo dõi và kiểm soát huyết áp, tần số tim, hô hấp, rối loạn nước-điện giải và nhất là chống phù não.

Ngoại trừ trường hợp viêm não do herpes simplex virus, hấu hết các trường hợp viêm não không cần dùng kháng sinh vì kháng sinh không có tác dụng. Có thể dùng corticosteroid, các dung dịch ưu trương để điều trị phù não. Các thuốc an thần  và chống co giật sử dụng khi có co giật.

Trong trường hợp nặng có rối loạn hô hấp, tuần hoàn, bệnh nhân cần điều trị tích cực như thông khí nhân tạo, chống sốc...

Điều trị phục hồi chức năng cho những bệnh nhân có di chứng.

Tiên lượng

Bệnh nhân có thể hồi phục hoàn toàn không di chứng tuy nhiên trong các trường hợp khác như viêm não do herpes simplex virus, viêm não Nhật bản B, viêm não do virus ruột tình trạng tổn thương tế bào não cũng như phù não gây nên các di chứng nặng nề như suy giảm khả năng học tập, mất trí nhớ, mất khả năng kiểm soát vận động cơ, động kinh, thay đổi nhân cách… Trẻ nhỏ dưới một tuổi thường có nguy cơ bệnh nặng hơn và có thể đưa đến bại não. Trường hợp viêm não tổn thương nặng đến thân não, nơi có trung tâm hô hấp, tuần hoàn, điều nhiệt… bệnh nhân dễ tử vong

Phòng bệnh

Viêm não bản thân nó không thể phòng ngừa được ngoại trừ các biện pháp phòng ngừa các bệnh lý có thể dẫn đến viêm não. Các bệnh này thường là những bệnh nhiễm trùng thông thường ở trẻ em như sởi, quai bị và thủy đậu và có thể phòng ngừa hiệu quả bằng tiêm chủng.

Trong những vùng mà viêm não được lây truyền do côn trùng, nhất là muỗi, thì trẻ em nên:

  • Tránh chơi ngoài trời vào lúc bình minh hoặc hoàng hôn (là thời điểm muỗi hoạt động mạnh nhất)
  • Cần mặc áo quần phủ kín tay chân như mang vớ, tất
  • Dùng các chất xua đuổi côn trùng
  • Nằm màn khi ngủ
  • Vệ sinh môi trường: phát quang bụi rậm, thông thoáng cống rãnh, đậy kỹ các vật dụng chứa nước, loại bỏ các dụng cụ thừa có khả năng đọng nước. Mục đích nhằm giảm thiểu nơi cư ngụ cũng như nơi đẻ trứng của muỗi.
Chuyên mục: , , , , , ,

28 thg 12, 2012

Hội chứng tràn khí màng phổi

Chia sẻ bài viết này:

» 360p - Xem nhanh nhất | 720p (HD) - Xem đẹp nhất.

» Xem phim tốt nhất với trình duyệt Firefox

» Chú ý : Nếu không xem được hoặc load chậm Pause 30s hoặc Click Vào đây | Báo Link Phim Hỏng

Video Bài giảng;anc.you/watch?v=b-WPSceDjcI|

Hinh-anh-tran-khi-mang-phoi-tren-phim-xquangI – ĐẠI CƯƠNG

Khi không khí tràn vào ổ màng phổi thì lá thành và lá tạng sẽ tách ra, tạo nên một khoảng chứa khi, gọi là hiện tượng tràn khi màng phổi.

Hiện tượng tràn khí màng phổi thường là bệnh lý, nhưng cũng có trường hợp bơm không khí vào ổ màng phổi để điều trị: phương pháp ép phổi.

Khi có thể tràn vàoổ màng phổi, xâm chiếm toàn bộ ổ màng phổi gọi là tràn khí màng phổi toàn bộ, nếu chỉ xâm chiếm một phần gọi là tràn khí màng phổi cục bộ (loại này thể hiện rất âm thầm).

Lâm sàng và điện quang xoay quanh hai yếu tố: thủng màng phổi và sự có mặt của không khí trong ổ màng phổi.

II. TRIỆU CHỨNG

Chúng tôi lấy hội chứng tràn khí màng phổi toàn bộ làm điển hình.

A – TRIỆU CHỨNG CHỨC NĂNG.

1. Hiện tượng đau chói ở ngực: người bệnh đột nhiên đau chói ở ngực đau như xé phổi, có thể gây sốc, tái xanh người, vã mồ hôi, mạch đập nhanh, huyết áp hạ.

2. Hiện tượng khó thở: xảy ra ngay sau người bệnh đau chói ở ngực khó thở rất nhiều, người bệnh thường ở trong bệnh cảnh sốc.

Những triệu chứng sốc này cũng biến dần đi cùng các triệu chứng chức năng kể trên, đau giảm đi, khu trú ở vùng xương bả hay dưới núm vú.

Còn đối với tràn khí gây ra để điều trị thì triệu chứng chức năng hầu như không đáng kể vì nó không phải do thủng màng phổi và không khí đưa từ ngoài vào chậm với một số lượng đã quy định sẵn, vì vậy không có hội chứng sốc, đau không đáng kể, người bệnh nghỉ ngơi thì không khó thở nữa.

B- TRIỆU CHỨNG THỰC THỂ

Trong hội chứng tràn khí toàn bộ, triệu chứng thực thể rất phong phú.

1. Nhìn: nửa ngực bị tràn khí thì lồng ngực bất động, khoảng liên sườn giãn ra, ngực bên đó cũng phình ra.

2. Sờ: Rung thanh mất.

3. Gõ: tiếng vang trống, một dấu hiệu điển hìonh của tràn khí màng phổi.

4. Nghe: triệu chứng chủ yếu là mất tiếng rì rào phế nang.

Ba triệu chứng: Rung thanh mất; Rì rào phế nang mất; Tiếng gõ vang trống.

Hợp thành tam chứng Galliard.

Khi nghe, đôi khi ta còn có thể thấy được một tiếng thổi vò. Tiếng vang kim khí, tiếng vang vò của tiếng nói và của tiếng ho. Những triệu chứng này không có thường xuyên và xảy ra muộn so với ba triệu chứng chính kể trên.

Ngoài ra còn có một số triệu chứng khác: do sự thay đổi vị trí của các cơ quan. Mất tiếng gõ đục vùng gan trong trường hợp tràn khí màng phổi phải, mất tiếng đục vùng tim vì tim bị đẩy sang phải, trong trường hợp tràn khí màng phổi trái.

C- TRIỆU CHỨNG XQUANG

-  Qúa sáng bên có bệnh .

-  Khoảng liên sườn giãn, chiều các xương sườn bé ngang ra.

-  Phổi bị co lại thành một cục xẹp xuống sát rốn phổi.

-  Cơ hoành không di động và bị đẩy xuống, trung thất bị đẩy sang bên lành (Hình 42,43,44)

 

D – TRIỆU CHỨNG ÁP LỰC KẾ

Cần phải biết để phân biệt hội chứng tràn khí màng phổi. Ta thường đo áp lực không khí trong ổ màng phổi bằng máy Kuss, có 3 trường hợp xảy ra:

1. Áp lực tràn khí màng phổi bằng áp lực khí trời: đó là tràn khí mà phổi mở, vẫn còn lỗ thông giữa màng phổi với không khí bên ngoài.

2. Áp lực tràn khí màng phổi thấp hơn áp lực khí trời: đó là tràn khí màng phổi đóng chỗ thủng đã được gắn lại, không khí không vào thêm được nữa. Loại này tiên lượng tốt.

3. Áp lực tràn khí màng phổi cao hơn áp lực khí trời: không khí vào ổ màng phổi được, nhưng không ra được nên thể tích không khí càng ngày càng tăng, làmm cho người bệnh càng khó thở, đó là tràn khí màng phổi có van, loại này rất nặng, thường thì người bệnh chết ngay vì ngạt thở và sốc.

Nếu không có máy Kuss ta có thể dùng ống bơm tiêm:

-  Nếu pittông (Piston) đứng yên: Tràn khí màng phổi mở.

-  Nếu pittông (Piston) bị hút vào: tràn khí màng phổi đóng.

-  Nếu pittông (Piston): tràn khí màng phổi có van.

Nếu hội chứng tràn khí màng phổi thường rõ ràng, để chẩn đoán bằng lâm sàng cũng như chẩn đoán bằng Xquang, thì trái lại, Hội chứng tràn khí màng phổi cục bộ rất kín đáo, ít khi chẩn đoán được bằng lâm sàng vì:

-  Về chức năng: người bệnh không khó thở chỉ hơi đau ngực.

-  Về thực thể: hội chứng tràn khí khu trú ở một vùng nhỏ cho nên rất khó phát hiện.

Chẩn đoán tràn khí màng phổi cục bộ thường là một phát hiện của Xquang: thấy một hình hơi ở ria phổi giữa nhu mô phổi và lồng ngực. Hình ảnh đó cần được phân biệt với một hang phổi bằng cách nhận xét góc của hình hơi đó: góc của tràn khí cục bộ thì nhọn, góc cuảa hang phổi thì tù, ngoài ra khi người bệnh ho, tràn khí cục bộ không nháy, trái lại nếu là hang phổi thì hình đó sẽ nháy.

III – NGUYÊN NHÂN

1. Do lao: phần lớn (60%) tràn khí màng phổi tự phát là do lao. Nó có thể là bệnh cảnh mở đầu một quá trình lao, nhưng thường là biến chứng của một bệnh lao phổi tiến triển.

2. không rõ nguyên nhân: thường xảy ra ở người trẻ, khoẻ mạnh. Tràn khí toàn bộ một bên ổ màng phổi không tiến triển thành một tràn dịch, hay tái phát, người ta cho rằng có thể ;là do kén hơi ở phổi vỡ ra.

3. Các bệnh khác ở phổi, không phải lao: Áp xe phổi vỡ ra ở màng phổi ho gà…

Chuyên mục: , , ,

27 thg 12, 2012

Khí phế thũng

Chia sẻ bài viết này:

Khí phế thũng là một bệnh tiến triển, lâu ngày và là nguyên nhân hàng đầu gây thở hụt hơi (hơi thở ngắn). Ở những bệnh nhân bị khí phế thũng, những nhu mô phổi cần thiết để giữ cho chức năng và hình dạng của phổi được bình thường bị phá hủy. Nó nằm trong một nhóm các bệnh có tên gọi chung là bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính hay COPD (chronic obstructive pulmonary disease). Khí phế thũng được gọi là bệnh phổi tắc nghẽn do sự phá hủy nhu mô phổi xung quanh những đường dẫn khí nhỏ, được gọi là các tiểu phế quản, làm cho chúng không thể giữ được hình dạng bình thường khi bệnh nhân thở ra.

Nhóm bệnh này là nguyên nhân xếp hàng thứ 4 gây tử vong ở Hoa Kỳ. Không như bệnh tim mạch và những nguyên nhân gây tử vong khác, tỷ lệ tử vong do COPD đang có chiều hướng tăng lên.

Bệnh khí phế thũng thay đổi cấu trúc của phổi theo một số cách quan trọng.

  • Bình thường phổi rất xốp và đàn hồi. Khi hít vào, thành ngực nở ra, làm phổi cũng nở ra. Tương tự như khi một miếng xốp đang bị bóp chặt khi được thả ra sẽ hút nước vào bên trong nó, phổi cũng hút không khí vào bên trong nó khi thành ngực nở ra. Không khí đi vào qua khí quản, các phế quản (hai ống dẫn khí chính đi vào phổi phải và phổi trái). Hai ống này tiếp tục chia ra thành những ống nhỏ hơn và nhỏ hơn nữa đến đơn vị nhỏ nhất được gọi là phế nang. Phế nang là cấu trúc nhỏ nhất trong phổi, nó là một túi khí được sắp xếp tương tự như một chùm nho. Phế nang nằm ở đầu tận của ống dẫn khí nhỏ nhất có tên là tiểu phế quản. Các phế nang và tiểu phế quản là những cấu trúc rất quan trọng của phổi giúp nó thực hiện tốt chức năng của mình. Đó cũng chính là những cấu trúc bị phá hủy trong bệnh khí phế thũng.
  • Miếng xốp hút nước được là do tất cả những lỗ nhỏ li ti bên trong nó nở ra cùng một lúc sau khi được vắt khô. Nếu những lỗ này lớn hơn, miếng xốp không thể hút nước nhiều được. Đó là do những lỗ lớn không thể tự nở lớn ra bằng với nhiều lỗ nhỏ hơn. Hãy tưởng tượng phổi cũng tương tự như vậy sẽ hiểu được dễ dàng hơn vì sao khí phế thũng lại gây suy giảm chức năng phổi. Phổi cần phải có tính đàn hồi để có thể dãn ra và co lại tốt. Cũng tương tự như miếng xốp, phổi cần rất nhiều phế nang (hàng trăm triệu) để hút đủ khí vào bên trong. Các phế nang càng ít và càng lớn hơn thì hiệu quả sẽ càng kém đi.

NGUYÊN NHÂN

Hút thuốc lá là nguyên nhân nguy hiểm nhất gây khí phế thũng và nó cũng là nguyên nhân có thể phòng ngừa được nhất. Những yếu tố nguy cơ khác bao gồm thiếu một loại enzyme có tên là alpha-1-antitrypsin, ô nhiễm không khí, phản ứng của đường thở, di truyền, là nam giới, và tuổi tác.

  • Tầm quan trọng của việc hút thuốc lá với vai trò là yếu tố nguy cơ của khí phế thũng không thể được cường điệu hóa. Hút thuốc lá góp phần đẩy nhanh tiến trình bệnh qua 2 cách. Nó phá hủy nhu mô phổi, là nguyên nhân gây tắc nghẽn, và nó gây viêm và kích thích đường dẫn khí có thể làm cho bệnh nặng hơn.
    • Sự phá hủy nhu mô phổi có thể xảy ra theo nhiều cách. Đầu tiên, khói thuốc sẽ tác động trực tiếp lên các tế bào ở đường thở chịu trách nhiệm làm sạch chất nhầy và các chất xuất tiết khác ra khỏi đường thở. Hút thuốc là không thường xuyên sẽ chỉ ngăn chặn tạm thời hoạt động quét của các lông nhỏ li ti của các tế bào này (được gọi là lông chuyển) nằm trên lớp niêm mạc đường thở. Nếu tiếp tục hút sẽ dẫn đến rối loạn chức năng của các lông chuyển. Tiếp xúc với khói thuốc trong thời gian dài sẽ làm các lông chuyển này biến mất khỏi các tế bào bề mặt đường thở. Không được quét bởi các lông chuyển, các chất tiết nhầy không thể bị loại bỏ ra khỏi đường hô hấp dưới. Ngoài ra, khói thuốc còn làm cho dịch nhầy tiết ra nhiều hơn cùng lúc với hiện tượng đường hô hấp bị giảm khả năng làm sạch những chất tiết và kết quả là chất nhầy tích tụ lại tạo môi trường thuận lợi cho vi khuẩn phát triển dẫn đến nhiễm trùng.
    • Những tế bào miễn dịch của phổi, vốn có chức năng phòng ngừa và chống lại nhiễm trùng, cũng bị ảnh hưởng bởi khói thuốc. Chúng không thể chống lại vi khuẩn một cách hiệu quả nữa, và chúng cũng không loại bỏ được những thành phần chứa trong thuốc lá ra khỏi phổi. Bằng những cách đó, khói thuốc lá tạo điều kiện thuận lợi cho nhiễm trùng xuất hiện thường xuyên. Mặc dù những đợt nhiễm trùng này có thể sẽ không nghiêm trọng đến mức phải nhờ đến sự giúp đỡ của bác sĩ nhưng quá trình viêm gây ra bởi hệ miễn dịch để chống lại vi khuẩn và những thành phần của thuốc lá dẫn đến việc phóng thích những enzyme có tính chất phá hủy từ các tế bào miễn dịch.
    • Theo thời gian, những enzyme được phóng thích trong quá trình viêm kéo dài này làm mất những protein chịu trách nhiệm giữ cho phổi được đàn hồi. Ngoài ra, những mô nằm giữa để chia tách các phế nang riêng với nhau cũng bị phá hủy. Nhiều năm sau đó, nếu vẫn tiếp tục tiếp xúc với khói thuốc thì sự giảm đàn hồi của phổi cùng với sự phá hủy các phế nang sẽ làm chức năng phổi bị hủy hoại từ từ.
  • Alpha-1-antitrypsin là một chất chống lại một loại enzyme phá hủy bên trong phổi có tên là trypsin. Trypsin là một enzyme tiêu hóa, thường thấy trong các ống tiêu hóa được cơ thể sử dụng để tiêu hóa thức ăn. Chúng cũng được các tế bào miễn dịch tiết ra để chống lại vi khuẩn và những chất khác. Những người bị thiếu men alpha-1-antitrypsin sẽ không thể chống lại được tác dụng phá hủy của trypsin một khi nó bị tiết vào phổi. Sự phá hủy mô của trypsin cũng cho những tác động tương tự như sự phá hủy của khói thuốc. Nhu mô phổi sẽ bị phá hủy dần dần dẫn đến giảm khả năng thực hiện những chức năng bình thường của phổi.
  • Không khí ô nhiễm cũng có các tác động tương tự như khói thuốc lá. Chúng gây viêm đường hô hấp dẫn đến phá hủy nhu mô phổi.
  • Những người có họ hàng gần với bệnh nhân bị khí phế thũng cũng có khả năng bị bệnh này, đây được gọi là thể bệnh do di truyền, tuy nhiên vai trò của gen di truyền trong cơ chế phát sinh bệnh cho đến nay vẫn chưa được biết rõ.
  • Phản ứng bất thường của đường dẫn khí, chẳng hạn như hen phế quản, cũng là yếu tố nguy cơ gây khí phế thũng.
  • Nam giới dễ bị khí phế thũng hơn nữ, tuy nhiên nguyên nhân chính xác vẫn chưa được biết đến, có thể là do sự khác nhau về hormon giữa nam và nữ.
  • Lớn tuổi cũng là yếu tố nguy cơ của khí phế thũng. Chức năng phổi sẽ suy giảm theo tuổi. Do đó, có thể đây là lý do vì sao những người lớn tuổi, khi mà nhu mô phổi của họ bị phá hủy một lượng vừa đủ để có thể gây ra bệnh khí phế thũng.

TRIỆU CHỨNG

Thở hụt hơi (hơi thở ngắn) là triệu chứng thường gặp nhất của khí phế thũng. Những triệu chứng sau cũng có thể gặp là ho, có thể đôi khi là do dịch nhầy bị tiết ra, và thở khò khè. Bạn sẽ cũng có thể để ý đến khả năng vận động của mình giảm dần theo thời gian. Khí phế thũng thường phát triển từ từ. Bạn có thể sẽ không có những đợt thở hụt hơi cấp tính. Sự hư hỏng sẽ diễn ra từ từ và không làm cho bạn chú ý.

Một trong những triệu chứng đặc hiệu của khí phế thũng là thở chu môi. Bệnh nhân bị khí phể thũng sẽ phải cố gắng hết sức mình để thở ra hoàn toàn do đường dẫn khí đã bị đóng khi thành ngực xẹp xuống trong khi thở ra. Họ sẽ chu môi lại để miệng chỉ còn là một lỗ nhỏ cho phép khí đi ra. Khi đó, lúc thở ra, hai môi sẽ ngăn dòng khí đi ra ngoài làm tăng áp lực bên trong đường thở bị xẹp làm cho chúng nở ra để bệnh nhân có thể thở ra được hoàn toàn.

Bệnh nhân cũng có thể bị lồng ngực hình thùng, đó là khi khoảng cách từ ngực đến lưng, bình thường nhỏ hơn chiều rộng của lồng ngực, trở nên lớn hơn. Đây là hậu quả trực tiếp của việc khí bị giữ lại bên trong đường dẫn khí đã bị tắc nghẽn.

KHI NÀO CẦN ĐI KHÁM BỆNH

Khi bạn mới bị thở hụt hơi hoặc khi triệu chứng này tăng lên, hãy đến gặp bác sĩ để được khám bệnh. Triệu chứng này có thể là do những bệnh khác gây ra, đặc biệt là những bệnh của tim mạch hoặc những bệnh khác của phổi, do đó điều quan trọng là không nên bỏ qua hoặc xem nhẹ triệu chứng này. Sự giảm dần khả năng gắng sức, ho dai dẳng, khò khè cũng là những dấu hiệu báo động bạn cần phải đi khám bệnh.

Do khói thuốc là một yếu tố nguy cơ nguy hiểm đối với khí phế thũng nên bạn cũng sẽ cần phải bỏ thuốc dưới sự tư vấn của bác sĩ ngay cả khi không có triệu chứng thở hụt hơi. Các bác sĩ sẽ đề nghị bạn một vài phương pháp bỏ thuốc khác nhau và sự giúp đỡ này sẽ làm cho tiến trình bỏ thuốc dễ dàng hơn là bạn tự làm một mình.

Triệu chứng thở hụt hơi phải luôn được xem là nghiêm trọng, đặc biệt là khi nó xuất hiện bất ngờ hoặc diễn tiến xấu đi trong một khoảng thời gian tương đối ngắn.

  • Nếu bạn biết mình bị khí phế thũng, hãy đến phòng cấp cứu của bệnh viện ngay nếu như triệu chứng thở hụt hơi mới xuất hiện, nặng nề hoặc diễn tiến xấu đi. Mất khả năng nói 1 câu hoàn chỉnh có thể là dấu hiệu của thở hụt hơi.
  • Bất kỳ dấu hiệu gợi ý nào của môi, lưỡi, móng tay, hoặc da chuyển sang màu xanh đều nên đến khoa cấp cứu tại bệnh viện lập tức vì dấu hiệu này, dấu tím tái, có thể là biểu hiện của tình trạng diễn tiến nặng của phổi.
  • Thất bại trong việc cải thiện triệu chứng thở hụt hơi hoặc triệu chứng này trở nên xấu hơn bất kể là đã được dùng thuốc có thể là một biểu hiện cần phải được đưa đi cấp cứu.
  • Đợt ho mới xuất hiện hoặc nặng hơn có thể là dấu hiệu của nhiễm trùng, chẳng hạn như viêm phổi, và cần phải được đưa đi cấp cứu để đánh giá. Tăng tiết đàm nhớt có thể cũng là dấu hiệu của nhiễm trùng. Nhiễm trùng làm cho khí phế thũng nặng hơn và có thể dẫn đến những vấn đề mạn tính sau này.

KHÁM VÀ XÉT NGHIỆM

Khi nghi ngờ bạn bị khí phế thũng dựa vào những lời khai bệnh của bạn, các bác sĩ sẽ thực hiện những thao tác khám bệnh. Bác sĩ sẽ chú ý đặc biệt đến tiếng thở của bạn, tiếng tim và quan sát tổng trạng của bạn. Một số xét nghiệm và các phương tiện cận lâm sàng sẽ được thực hiện tại phòng mạch hoặc trong phòng cấp cứu để xác định mức độ lan rộng của bệnh, chức năng phổi còn lại, và sự hiện diện của nhiễm trùng phổi.

  • X quang phổi giúp các bác sĩ xác định được những thay đổi bên trong phổi có thể gợi ý đến khí phế thũng. X quang phổi cũng có thể cho thấy sự nhiện diện của nhiễm trùng và các khối bất thường bên trong phổi (chẳng hạn như khối u) có thể giải thích được những triệu chứng của bạn. Thở hụt hơi có thể do nhiều nguyên nhân. X quang ngực được hầu hết các bác sĩ xem là phương tiện nhanh nhất và dễ dàng nhất giúp phân biệt được những nguyên nhân khác nhau của triệu chứng này và giúp hình thành chẩn đoán.
  • Đo chức năng phổi cũng cung cấp cho các bác sĩ những thông tin đặc biệt về tình trạng hoạt động cơ năng của phổi. Bệnh nhân sẽ được thở vào bên trong một ống nối với máy vi tính hoặc một số thiết bị theo dõi khác để ghi nhận lại những thông tin cần thiết. Xét nghiệm này có thể xác định được khả năng của phổi có thể chứa được bao nhiêu khí, phổi có thể đẩy không khí ra bên ngoài với tốc độ như thế nào trong khi thở ra, và khả năng đáp ứng của phổi khi được đòi hỏi ở mức độ cao hơn, chẳng hạn như khi tập thể dục.
  • Nếu bạn có tiền sử gia đình bị thiếu men alpha-1-antitrypsin, các bác sĩ sẽ phải thực hiện xét nghiệm máu để đánh giá.
  • Bạn cũng sẽ được đo công thức máu để kiểm tra số lượng tế bào bạch cầu, đôi khi có thể phản ánh được một tình trạng nhiễm trùng. Thông tin này có thể kết hợp với x quang ngực để đánh giá viêm phổi, viêm phế quản hoặc những nhiễm trùng hô hấp khác có thể làm cho tình trạng khí phế thũng tồi tệ hơn.
  • Một loại xét nghiệm máu khác cũng có thể hữu ích, đặc biệt là khi được nhập viện, đó là xét nghiệm khí máu động mạch. Các bác sĩ sẽ xác định lượng Oxy, Carbon dioxide bên trong máu của bệnh nhân, thông tin này sẽ thể hiện được tình trạng nặng của bệnh.

ĐIỀU TRỊ

Thuốc

Có thể điều trị khí phế thũng theo nhiều cách khác nhau. Thông thường, các bác sĩ sẽ điều trị theo từng bước, tùy thuộc vào độ nặng của bệnh.

  • Ngừng hút thuốc: mặc dù không thật sự nghiêm ngặt nhưng các bác sĩ cũng cho lời khuyên này đối với bệnh nhân bị khí phế thũng (và đối với tất cả mọi người). Bỏ thuốc có thể làm tiến trình của bệnh ngừng lại và có thể cải thiện chức năng của phổi. Bác sĩ sẽ có thể cho thuốc để cai nghiện hoặc cũng có thể dùng các cách thay đổi thói quen khác như dùng nhóm hỗ trợ. Bạn phải cùng hợp tác với bác sĩ để có thể bỏ thuốc thành công và để bắt đầu cải thiện chức năng phổi và chất lượng sống.
  • Thuốc dãn phế quản: đây là những loại thuốc làm cho đường dẫn khí mở ra lớn hơn giúp trao đổi khí tốt hơn, thường là thuốc được lựa chọn đầu tiên đối với các bệnh nhân khí phế thũng. Ở những trường hợp bệnh rất nhẹ, có thể chỉ cần phải dùng khi cần thiết, trong những giai đoạn bị thở hụt hơi.
    • Thuốc dãn phế quản thường gặp nhất đối với trường hợp khí phế thũng nhẹ là albuterol (Proventil hoặc Ventolin). Nó cho tác dụng nhanh và một liều thường kéo dài trong khoảng 4-6 giờ. Albuterol thường gặp nhất dưới dạng bình xịt định liều hoặc MDI (Metered-dose inhaler) và là dạng thường được dùng nhất đối với các trường hợp khí phế thũng nhẹ với những cơn thở hụt hơi xuất hiện gián đoạn. Trong trường hợp này, albuterol được khuyên dùng như là một thuốc giải cứu. Nó dùng để giải cứu bệnh nhân khỏi những cơn thở hụt hơi cấp tính nặng nề.
    • Nếu bạn bị thở hụt hơi ở một mức độ nào đó ngay cả khi nghỉ ngơi, bác sĩ sẽ cho bạn sử dụng albuterol thường xuyên theo lịch dưới dạng MDI hoặc xông khí dung. Xông khí dung là khi bạn được hít thở dung dịch thuốc đã được biến thành hơi nước bằng những dòng khí được thổi liên tục (cũng tương tự như cách các nhà hàng làm ẩm không khí bằng cách cho quạt thổi không khí đi xuyên qua nước). Bạn sẽ được xông khí dung một khi dùng dưới dạng hít qua MDI không còn có tác dụng nữa.
    • Ipratropium bromide (Atrovent) là một loại thuốc dãn phế quản khác được dùng trong những trường hợp khí phế thũng tương đối nhẹ. Tương tự với Albuterol, nó cũng có dưới dạng bình xịt định liều hoặc dung dịch dùng để xông. Tuy nhiên, không giống với albuterol, nó thường được cho theo lịch, do đó nó không được kê toa với mục đích cấp cứu. Atrovent cho tác dụng kéo dài hơn albuterol.
    • Methylxanthine (Theophylline) và những loại thuốc dãn phế quản khác có những tính chất khác nhau có thể hữu ích trong những trường hợp nhất định. Tương đối thông dụng là dạng thuốc viên. Theophylline được dùng qua được miệng. Nó có khả năng duy trì tác dụng làm thông đường thở. Buộc phải theo dõi nồng độ theophylline trong máu. Nếu có quá nhiều theophylline sẽ gây ra hiện tượng quá liều, nếu quá ít, sẽ không đủ khả năng làm giảm triệu chứng thở hụt hơi. Ngoài ra, một số loại thuốc khác cũng có thể tác dụng với theophylline, thay đổi nồng độ máu mà không có dấu hiệu báo động nào. Do đó, ngày nay các bác sĩ rất cẩn thận trong việc sử dụng theophylline. Nếu bạn đang dùng theophylline, hãy tuân thủ đúng theo toa và khám lại với bác sĩ trước khi bắt đầu dùng bất kỳ loại thuốc mới nào.
  • Corticoid: làm giảm viêm cho cơ thể. Do khả năng này mà chúng được dùng trong phổi và các nơi khác, chúng đã được chứng minh rằng có một số lợi ích trong khí phế thũng. Tuy nhiên, không phải tất cả mọi người đều đáp ứng với corticoid. Corticoid có thể được dùng qua đường uống hoặc hít qua bình xịt định liều hoặc những dạng hít khác.
  • Kháng sinh: thường được kê toa cho những bệnh nhân khí phế thũng bị tăng thở hụt hơi. Ngay cả khi x quang phổi không cho thấy hình ảnh của viêm phổi hoặc bằng chứng nhiễm trùng, bệnh nhân được điều trị với kháng sinh có khuynh hướng giảm dần thời gian của các giai đoạn khó thở. Người ta nghi ngờ rằng nhiễm trùng có thể đóng vai trò trong những cơn khí phế thũng cấp, ngay cả trước khi nhiễm trùng trở thành viêm phổi hoặc viêm phế quản cấp tính.
  • Thở oxy: nếu bạn bị thở hụt hơi và được đưa đến khoa cấp cứu ở bệnh viện, thường bạn sẽ được cho thở oxy. Cũng có thể cần phải cung cấp oxy cho bệnh nhân bằng cách đặt một ống vào bên trong khí quản cho phép một loại máy có thể giúp thở cho bệnh nhân. Ở một số trường hợp, có thể cần phải thở oxy tại nhà. Có những bình oxygen tại nhà có thể mang đi được và thuận tiện cho những khi thực hiện các công việc thường ngày.

Phẫu thuật

Phẫu thuật có thể thực hiện ở một số bệnh nhân bị khí phế thũng tiến triển.

  • Đầu tiên là phẫu thuật cắt phổi. Mặc dù có thể nó không cho ấn tượng rằng giảm thể tích của phổi sẽ giúp cải thiện triệu chứng thở hụt hơi, điều quan trọng cần nhớ là khí phế thũng gây ra sự giãn nở bất thường của thành ngực, có thể làm giảm hiệu năng hô hấp. Bằng cách lấy đi một số vùng phổi thừa hoặc bị chết, phương pháp này có thể cải thiện khả năng hô hấp và chất lượng sống ở một số người.
  • Đối với những người bị khí phế thũng tiển triển nặng nhất, việc ghép 1 hay cả 2 phổi có thể là cách điều trị tức thời. Ghép phổi sẽ đưa đến một số nguy cơ cũng như thuận lợi khác. Những người được ghép phổi sẽ phải dùng thuốc để ngăn sự đào thải của cơ thể đối với mô ghép. Ngoài ra, không phải tất cả mọi người đều có đủ khả năng ghép, và những người đủ khả năng cũng chưa chắc được ghép bởi số phổi hiến có giới hạn.

NHỮNG BƯỚC TIẾP THEO

Theo dõi

Nếu bạn bị khí phế thũng thì việc theo dõi sát là rất quan trọng để kiểm soát bệnh. Bạn cần phải cộng tác tốt với bác sĩ để có thể kiểm soát được sức khỏe của mình.

Phòng ngừa

Phòng ngừa khí phế thũng liên hệ mật thiết với việc phòng tránh khói thuốc. Yếu tố nguy cơ duy nhất của bệnh này mà bạn có thể kiểm soát được là khói thuốc lá. Những người hút thuốc thường xuyên đã đặt chính bản thân và sức khỏe của họ vào sự gia tăng nguy cơ theo mỗi gói thuốc lá và mỗi năm họ tiếp tục hút.

Cơn bùng phát của khí phế thũng có thể được phòng ngừa bằng cách dùng thuốc đã được kê toa và đi khám bệnh khi gặp bất kỳ dấu hiệu hoặc triệu chứng nào của nhiễm trùng đường hô hấp hoặc thở hụt hơi. Ngoài ra, nếu bạn bị khí phế thũng, bạn nên theo đúng lịch tiêm vaccin để phòng ngừa nhiễm trùng hô hấp. Điều quan trọng là nên tiêm vaccine pneumococcal mỗi 5 năm và vaccine virus influenza hằng năm, trước khi mùa cúm diễn ra.

Tiên lượng

Khí phế thũng là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ 4 ở Hoa Kỳ. Nó là một bệnh mạn tính, tiến triển ảnh hưởng đến chất lượng sống trong ít nhất là toàn bộ quãng đời còn lại.

Tương tự như với nhiều bệnh mạn tính khác, tiên lượng của bệnh bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố. Không có cách điều trị dứt điểm nhưng có những phương pháp hiệu quả để làm chậm lại tiến trình của bệnh để cho người bệnh một cuộc sống bình thường.

Tóm lại, khí phế thũng là một loại bệnh đòi hỏi bạn phải đóng vai trò chủ động trong việc kiểm soát bệnh của mình. Bước đầu tiên là bỏ thuốc lá. Thường xuyên đến khám bệnh và uống thuốc theo toa là rất quan trọng.

Theo emedicinehealth - Y học NET dịch

Chuyên mục: , , ,

Khí phế thũng

Chia sẻ bài viết này:

Khí phế thũng là một bệnh tiến triển, lâu ngày và là nguyên nhân hàng đầu gây thở hụt hơi (hơi thở ngắn). Ở những bệnh nhân bị khí phế thũng, những nhu mô phổi cần thiết để giữ cho chức năng và hình dạng của phổi được bình thường bị phá hủy. Nó nằm trong một nhóm các bệnh có tên gọi chung là bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính hay COPD (chronic obstructive pulmonary disease). Khí phế thũng được gọi là bệnh phổi tắc nghẽn do sự phá hủy nhu mô phổi xung quanh những đường dẫn khí nhỏ, được gọi là các tiểu phế quản, làm cho chúng không thể giữ được hình dạng bình thường khi bệnh nhân thở ra.

Nhóm bệnh này là nguyên nhân xếp hàng thứ 4 gây tử vong ở Hoa Kỳ. Không như bệnh tim mạch và những nguyên nhân gây tử vong khác, tỷ lệ tử vong do COPD đang có chiều hướng tăng lên.

Bệnh khí phế thũng thay đổi cấu trúc của phổi theo một số cách quan trọng.

  • Bình thường phổi rất xốp và đàn hồi. Khi hít vào, thành ngực nở ra, làm phổi cũng nở ra. Tương tự như khi một miếng xốp đang bị bóp chặt khi được thả ra sẽ hút nước vào bên trong nó, phổi cũng hút không khí vào bên trong nó khi thành ngực nở ra. Không khí đi vào qua khí quản, các phế quản (hai ống dẫn khí chính đi vào phổi phải và phổi trái). Hai ống này tiếp tục chia ra thành những ống nhỏ hơn và nhỏ hơn nữa đến đơn vị nhỏ nhất được gọi là phế nang. Phế nang là cấu trúc nhỏ nhất trong phổi, nó là một túi khí được sắp xếp tương tự như một chùm nho. Phế nang nằm ở đầu tận của ống dẫn khí nhỏ nhất có tên là tiểu phế quản. Các phế nang và tiểu phế quản là những cấu trúc rất quan trọng của phổi giúp nó thực hiện tốt chức năng của mình. Đó cũng chính là những cấu trúc bị phá hủy trong bệnh khí phế thũng.
  • Miếng xốp hút nước được là do tất cả những lỗ nhỏ li ti bên trong nó nở ra cùng một lúc sau khi được vắt khô. Nếu những lỗ này lớn hơn, miếng xốp không thể hút nước nhiều được. Đó là do những lỗ lớn không thể tự nở lớn ra bằng với nhiều lỗ nhỏ hơn. Hãy tưởng tượng phổi cũng tương tự như vậy sẽ hiểu được dễ dàng hơn vì sao khí phế thũng lại gây suy giảm chức năng phổi. Phổi cần phải có tính đàn hồi để có thể dãn ra và co lại tốt. Cũng tương tự như miếng xốp, phổi cần rất nhiều phế nang (hàng trăm triệu) để hút đủ khí vào bên trong. Các phế nang càng ít và càng lớn hơn thì hiệu quả sẽ càng kém đi.

NGUYÊN NHÂN

Hút thuốc lá là nguyên nhân nguy hiểm nhất gây khí phế thũng và nó cũng là nguyên nhân có thể phòng ngừa được nhất. Những yếu tố nguy cơ khác bao gồm thiếu một loại enzyme có tên là alpha-1-antitrypsin, ô nhiễm không khí, phản ứng của đường thở, di truyền, là nam giới, và tuổi tác.

  • Tầm quan trọng của việc hút thuốc lá với vai trò là yếu tố nguy cơ của khí phế thũng không thể được cường điệu hóa. Hút thuốc lá góp phần đẩy nhanh tiến trình bệnh qua 2 cách. Nó phá hủy nhu mô phổi, là nguyên nhân gây tắc nghẽn, và nó gây viêm và kích thích đường dẫn khí có thể làm cho bệnh nặng hơn.
    • Sự phá hủy nhu mô phổi có thể xảy ra theo nhiều cách. Đầu tiên, khói thuốc sẽ tác động trực tiếp lên các tế bào ở đường thở chịu trách nhiệm làm sạch chất nhầy và các chất xuất tiết khác ra khỏi đường thở. Hút thuốc là không thường xuyên sẽ chỉ ngăn chặn tạm thời hoạt động quét của các lông nhỏ li ti của các tế bào này (được gọi là lông chuyển) nằm trên lớp niêm mạc đường thở. Nếu tiếp tục hút sẽ dẫn đến rối loạn chức năng của các lông chuyển. Tiếp xúc với khói thuốc trong thời gian dài sẽ làm các lông chuyển này biến mất khỏi các tế bào bề mặt đường thở. Không được quét bởi các lông chuyển, các chất tiết nhầy không thể bị loại bỏ ra khỏi đường hô hấp dưới. Ngoài ra, khói thuốc còn làm cho dịch nhầy tiết ra nhiều hơn cùng lúc với hiện tượng đường hô hấp bị giảm khả năng làm sạch những chất tiết và kết quả là chất nhầy tích tụ lại tạo môi trường thuận lợi cho vi khuẩn phát triển dẫn đến nhiễm trùng.
    • Những tế bào miễn dịch của phổi, vốn có chức năng phòng ngừa và chống lại nhiễm trùng, cũng bị ảnh hưởng bởi khói thuốc. Chúng không thể chống lại vi khuẩn một cách hiệu quả nữa, và chúng cũng không loại bỏ được những thành phần chứa trong thuốc lá ra khỏi phổi. Bằng những cách đó, khói thuốc lá tạo điều kiện thuận lợi cho nhiễm trùng xuất hiện thường xuyên. Mặc dù những đợt nhiễm trùng này có thể sẽ không nghiêm trọng đến mức phải nhờ đến sự giúp đỡ của bác sĩ nhưng quá trình viêm gây ra bởi hệ miễn dịch để chống lại vi khuẩn và những thành phần của thuốc lá dẫn đến việc phóng thích những enzyme có tính chất phá hủy từ các tế bào miễn dịch.
    • Theo thời gian, những enzyme được phóng thích trong quá trình viêm kéo dài này làm mất những protein chịu trách nhiệm giữ cho phổi được đàn hồi. Ngoài ra, những mô nằm giữa để chia tách các phế nang riêng với nhau cũng bị phá hủy. Nhiều năm sau đó, nếu vẫn tiếp tục tiếp xúc với khói thuốc thì sự giảm đàn hồi của phổi cùng với sự phá hủy các phế nang sẽ làm chức năng phổi bị hủy hoại từ từ.
  • Alpha-1-antitrypsin là một chất chống lại một loại enzyme phá hủy bên trong phổi có tên là trypsin. Trypsin là một enzyme tiêu hóa, thường thấy trong các ống tiêu hóa được cơ thể sử dụng để tiêu hóa thức ăn. Chúng cũng được các tế bào miễn dịch tiết ra để chống lại vi khuẩn và những chất khác. Những người bị thiếu men alpha-1-antitrypsin sẽ không thể chống lại được tác dụng phá hủy của trypsin một khi nó bị tiết vào phổi. Sự phá hủy mô của trypsin cũng cho những tác động tương tự như sự phá hủy của khói thuốc. Nhu mô phổi sẽ bị phá hủy dần dần dẫn đến giảm khả năng thực hiện những chức năng bình thường của phổi.
  • Không khí ô nhiễm cũng có các tác động tương tự như khói thuốc lá. Chúng gây viêm đường hô hấp dẫn đến phá hủy nhu mô phổi.
  • Những người có họ hàng gần với bệnh nhân bị khí phế thũng cũng có khả năng bị bệnh này, đây được gọi là thể bệnh do di truyền, tuy nhiên vai trò của gen di truyền trong cơ chế phát sinh bệnh cho đến nay vẫn chưa được biết rõ.
  • Phản ứng bất thường của đường dẫn khí, chẳng hạn như hen phế quản, cũng là yếu tố nguy cơ gây khí phế thũng.
  • Nam giới dễ bị khí phế thũng hơn nữ, tuy nhiên nguyên nhân chính xác vẫn chưa được biết đến, có thể là do sự khác nhau về hormon giữa nam và nữ.
  • Lớn tuổi cũng là yếu tố nguy cơ của khí phế thũng. Chức năng phổi sẽ suy giảm theo tuổi. Do đó, có thể đây là lý do vì sao những người lớn tuổi, khi mà nhu mô phổi của họ bị phá hủy một lượng vừa đủ để có thể gây ra bệnh khí phế thũng.

TRIỆU CHỨNG

Thở hụt hơi (hơi thở ngắn) là triệu chứng thường gặp nhất của khí phế thũng. Những triệu chứng sau cũng có thể gặp là ho, có thể đôi khi là do dịch nhầy bị tiết ra, và thở khò khè. Bạn sẽ cũng có thể để ý đến khả năng vận động của mình giảm dần theo thời gian. Khí phế thũng thường phát triển từ từ. Bạn có thể sẽ không có những đợt thở hụt hơi cấp tính. Sự hư hỏng sẽ diễn ra từ từ và không làm cho bạn chú ý.

Một trong những triệu chứng đặc hiệu của khí phế thũng là thở chu môi. Bệnh nhân bị khí phể thũng sẽ phải cố gắng hết sức mình để thở ra hoàn toàn do đường dẫn khí đã bị đóng khi thành ngực xẹp xuống trong khi thở ra. Họ sẽ chu môi lại để miệng chỉ còn là một lỗ nhỏ cho phép khí đi ra. Khi đó, lúc thở ra, hai môi sẽ ngăn dòng khí đi ra ngoài làm tăng áp lực bên trong đường thở bị xẹp làm cho chúng nở ra để bệnh nhân có thể thở ra được hoàn toàn.

Bệnh nhân cũng có thể bị lồng ngực hình thùng, đó là khi khoảng cách từ ngực đến lưng, bình thường nhỏ hơn chiều rộng của lồng ngực, trở nên lớn hơn. Đây là hậu quả trực tiếp của việc khí bị giữ lại bên trong đường dẫn khí đã bị tắc nghẽn.

KHI NÀO CẦN ĐI KHÁM BỆNH

Khi bạn mới bị thở hụt hơi hoặc khi triệu chứng này tăng lên, hãy đến gặp bác sĩ để được khám bệnh. Triệu chứng này có thể là do những bệnh khác gây ra, đặc biệt là những bệnh của tim mạch hoặc những bệnh khác của phổi, do đó điều quan trọng là không nên bỏ qua hoặc xem nhẹ triệu chứng này. Sự giảm dần khả năng gắng sức, ho dai dẳng, khò khè cũng là những dấu hiệu báo động bạn cần phải đi khám bệnh.

Do khói thuốc là một yếu tố nguy cơ nguy hiểm đối với khí phế thũng nên bạn cũng sẽ cần phải bỏ thuốc dưới sự tư vấn của bác sĩ ngay cả khi không có triệu chứng thở hụt hơi. Các bác sĩ sẽ đề nghị bạn một vài phương pháp bỏ thuốc khác nhau và sự giúp đỡ này sẽ làm cho tiến trình bỏ thuốc dễ dàng hơn là bạn tự làm một mình.

Triệu chứng thở hụt hơi phải luôn được xem là nghiêm trọng, đặc biệt là khi nó xuất hiện bất ngờ hoặc diễn tiến xấu đi trong một khoảng thời gian tương đối ngắn.

  • Nếu bạn biết mình bị khí phế thũng, hãy đến phòng cấp cứu của bệnh viện ngay nếu như triệu chứng thở hụt hơi mới xuất hiện, nặng nề hoặc diễn tiến xấu đi. Mất khả năng nói 1 câu hoàn chỉnh có thể là dấu hiệu của thở hụt hơi.
  • Bất kỳ dấu hiệu gợi ý nào của môi, lưỡi, móng tay, hoặc da chuyển sang màu xanh đều nên đến khoa cấp cứu tại bệnh viện lập tức vì dấu hiệu này, dấu tím tái, có thể là biểu hiện của tình trạng diễn tiến nặng của phổi.
  • Thất bại trong việc cải thiện triệu chứng thở hụt hơi hoặc triệu chứng này trở nên xấu hơn bất kể là đã được dùng thuốc có thể là một biểu hiện cần phải được đưa đi cấp cứu.
  • Đợt ho mới xuất hiện hoặc nặng hơn có thể là dấu hiệu của nhiễm trùng, chẳng hạn như viêm phổi, và cần phải được đưa đi cấp cứu để đánh giá. Tăng tiết đàm nhớt có thể cũng là dấu hiệu của nhiễm trùng. Nhiễm trùng làm cho khí phế thũng nặng hơn và có thể dẫn đến những vấn đề mạn tính sau này.

KHÁM VÀ XÉT NGHIỆM

Khi nghi ngờ bạn bị khí phế thũng dựa vào những lời khai bệnh của bạn, các bác sĩ sẽ thực hiện những thao tác khám bệnh. Bác sĩ sẽ chú ý đặc biệt đến tiếng thở của bạn, tiếng tim và quan sát tổng trạng của bạn. Một số xét nghiệm và các phương tiện cận lâm sàng sẽ được thực hiện tại phòng mạch hoặc trong phòng cấp cứu để xác định mức độ lan rộng của bệnh, chức năng phổi còn lại, và sự hiện diện của nhiễm trùng phổi.

  • X quang phổi giúp các bác sĩ xác định được những thay đổi bên trong phổi có thể gợi ý đến khí phế thũng. X quang phổi cũng có thể cho thấy sự nhiện diện của nhiễm trùng và các khối bất thường bên trong phổi (chẳng hạn như khối u) có thể giải thích được những triệu chứng của bạn. Thở hụt hơi có thể do nhiều nguyên nhân. X quang ngực được hầu hết các bác sĩ xem là phương tiện nhanh nhất và dễ dàng nhất giúp phân biệt được những nguyên nhân khác nhau của triệu chứng này và giúp hình thành chẩn đoán.
  • Đo chức năng phổi cũng cung cấp cho các bác sĩ những thông tin đặc biệt về tình trạng hoạt động cơ năng của phổi. Bệnh nhân sẽ được thở vào bên trong một ống nối với máy vi tính hoặc một số thiết bị theo dõi khác để ghi nhận lại những thông tin cần thiết. Xét nghiệm này có thể xác định được khả năng của phổi có thể chứa được bao nhiêu khí, phổi có thể đẩy không khí ra bên ngoài với tốc độ như thế nào trong khi thở ra, và khả năng đáp ứng của phổi khi được đòi hỏi ở mức độ cao hơn, chẳng hạn như khi tập thể dục.
  • Nếu bạn có tiền sử gia đình bị thiếu men alpha-1-antitrypsin, các bác sĩ sẽ phải thực hiện xét nghiệm máu để đánh giá.
  • Bạn cũng sẽ được đo công thức máu để kiểm tra số lượng tế bào bạch cầu, đôi khi có thể phản ánh được một tình trạng nhiễm trùng. Thông tin này có thể kết hợp với x quang ngực để đánh giá viêm phổi, viêm phế quản hoặc những nhiễm trùng hô hấp khác có thể làm cho tình trạng khí phế thũng tồi tệ hơn.
  • Một loại xét nghiệm máu khác cũng có thể hữu ích, đặc biệt là khi được nhập viện, đó là xét nghiệm khí máu động mạch. Các bác sĩ sẽ xác định lượng Oxy, Carbon dioxide bên trong máu của bệnh nhân, thông tin này sẽ thể hiện được tình trạng nặng của bệnh.

ĐIỀU TRỊ

Thuốc

Có thể điều trị khí phế thũng theo nhiều cách khác nhau. Thông thường, các bác sĩ sẽ điều trị theo từng bước, tùy thuộc vào độ nặng của bệnh.

  • Ngừng hút thuốc: mặc dù không thật sự nghiêm ngặt nhưng các bác sĩ cũng cho lời khuyên này đối với bệnh nhân bị khí phế thũng (và đối với tất cả mọi người). Bỏ thuốc có thể làm tiến trình của bệnh ngừng lại và có thể cải thiện chức năng của phổi. Bác sĩ sẽ có thể cho thuốc để cai nghiện hoặc cũng có thể dùng các cách thay đổi thói quen khác như dùng nhóm hỗ trợ. Bạn phải cùng hợp tác với bác sĩ để có thể bỏ thuốc thành công và để bắt đầu cải thiện chức năng phổi và chất lượng sống.
  • Thuốc dãn phế quản: đây là những loại thuốc làm cho đường dẫn khí mở ra lớn hơn giúp trao đổi khí tốt hơn, thường là thuốc được lựa chọn đầu tiên đối với các bệnh nhân khí phế thũng. Ở những trường hợp bệnh rất nhẹ, có thể chỉ cần phải dùng khi cần thiết, trong những giai đoạn bị thở hụt hơi.
    • Thuốc dãn phế quản thường gặp nhất đối với trường hợp khí phế thũng nhẹ là albuterol (Proventil hoặc Ventolin). Nó cho tác dụng nhanh và một liều thường kéo dài trong khoảng 4-6 giờ. Albuterol thường gặp nhất dưới dạng bình xịt định liều hoặc MDI (Metered-dose inhaler) và là dạng thường được dùng nhất đối với các trường hợp khí phế thũng nhẹ với những cơn thở hụt hơi xuất hiện gián đoạn. Trong trường hợp này, albuterol được khuyên dùng như là một thuốc giải cứu. Nó dùng để giải cứu bệnh nhân khỏi những cơn thở hụt hơi cấp tính nặng nề.
    • Nếu bạn bị thở hụt hơi ở một mức độ nào đó ngay cả khi nghỉ ngơi, bác sĩ sẽ cho bạn sử dụng albuterol thường xuyên theo lịch dưới dạng MDI hoặc xông khí dung. Xông khí dung là khi bạn được hít thở dung dịch thuốc đã được biến thành hơi nước bằng những dòng khí được thổi liên tục (cũng tương tự như cách các nhà hàng làm ẩm không khí bằng cách cho quạt thổi không khí đi xuyên qua nước). Bạn sẽ được xông khí dung một khi dùng dưới dạng hít qua MDI không còn có tác dụng nữa.
    • Ipratropium bromide (Atrovent) là một loại thuốc dãn phế quản khác được dùng trong những trường hợp khí phế thũng tương đối nhẹ. Tương tự với Albuterol, nó cũng có dưới dạng bình xịt định liều hoặc dung dịch dùng để xông. Tuy nhiên, không giống với albuterol, nó thường được cho theo lịch, do đó nó không được kê toa với mục đích cấp cứu. Atrovent cho tác dụng kéo dài hơn albuterol.
    • Methylxanthine (Theophylline) và những loại thuốc dãn phế quản khác có những tính chất khác nhau có thể hữu ích trong những trường hợp nhất định. Tương đối thông dụng là dạng thuốc viên. Theophylline được dùng qua được miệng. Nó có khả năng duy trì tác dụng làm thông đường thở. Buộc phải theo dõi nồng độ theophylline trong máu. Nếu có quá nhiều theophylline sẽ gây ra hiện tượng quá liều, nếu quá ít, sẽ không đủ khả năng làm giảm triệu chứng thở hụt hơi. Ngoài ra, một số loại thuốc khác cũng có thể tác dụng với theophylline, thay đổi nồng độ máu mà không có dấu hiệu báo động nào. Do đó, ngày nay các bác sĩ rất cẩn thận trong việc sử dụng theophylline. Nếu bạn đang dùng theophylline, hãy tuân thủ đúng theo toa và khám lại với bác sĩ trước khi bắt đầu dùng bất kỳ loại thuốc mới nào.
  • Corticoid: làm giảm viêm cho cơ thể. Do khả năng này mà chúng được dùng trong phổi và các nơi khác, chúng đã được chứng minh rằng có một số lợi ích trong khí phế thũng. Tuy nhiên, không phải tất cả mọi người đều đáp ứng với corticoid. Corticoid có thể được dùng qua đường uống hoặc hít qua bình xịt định liều hoặc những dạng hít khác.
  • Kháng sinh: thường được kê toa cho những bệnh nhân khí phế thũng bị tăng thở hụt hơi. Ngay cả khi x quang phổi không cho thấy hình ảnh của viêm phổi hoặc bằng chứng nhiễm trùng, bệnh nhân được điều trị với kháng sinh có khuynh hướng giảm dần thời gian của các giai đoạn khó thở. Người ta nghi ngờ rằng nhiễm trùng có thể đóng vai trò trong những cơn khí phế thũng cấp, ngay cả trước khi nhiễm trùng trở thành viêm phổi hoặc viêm phế quản cấp tính.
  • Thở oxy: nếu bạn bị thở hụt hơi và được đưa đến khoa cấp cứu ở bệnh viện, thường bạn sẽ được cho thở oxy. Cũng có thể cần phải cung cấp oxy cho bệnh nhân bằng cách đặt một ống vào bên trong khí quản cho phép một loại máy có thể giúp thở cho bệnh nhân. Ở một số trường hợp, có thể cần phải thở oxy tại nhà. Có những bình oxygen tại nhà có thể mang đi được và thuận tiện cho những khi thực hiện các công việc thường ngày.

Phẫu thuật

Phẫu thuật có thể thực hiện ở một số bệnh nhân bị khí phế thũng tiến triển.

  • Đầu tiên là phẫu thuật cắt phổi. Mặc dù có thể nó không cho ấn tượng rằng giảm thể tích của phổi sẽ giúp cải thiện triệu chứng thở hụt hơi, điều quan trọng cần nhớ là khí phế thũng gây ra sự giãn nở bất thường của thành ngực, có thể làm giảm hiệu năng hô hấp. Bằng cách lấy đi một số vùng phổi thừa hoặc bị chết, phương pháp này có thể cải thiện khả năng hô hấp và chất lượng sống ở một số người.
  • Đối với những người bị khí phế thũng tiển triển nặng nhất, việc ghép 1 hay cả 2 phổi có thể là cách điều trị tức thời. Ghép phổi sẽ đưa đến một số nguy cơ cũng như thuận lợi khác. Những người được ghép phổi sẽ phải dùng thuốc để ngăn sự đào thải của cơ thể đối với mô ghép. Ngoài ra, không phải tất cả mọi người đều có đủ khả năng ghép, và những người đủ khả năng cũng chưa chắc được ghép bởi số phổi hiến có giới hạn.

NHỮNG BƯỚC TIẾP THEO

Theo dõi

Nếu bạn bị khí phế thũng thì việc theo dõi sát là rất quan trọng để kiểm soát bệnh. Bạn cần phải cộng tác tốt với bác sĩ để có thể kiểm soát được sức khỏe của mình.

Phòng ngừa

Phòng ngừa khí phế thũng liên hệ mật thiết với việc phòng tránh khói thuốc. Yếu tố nguy cơ duy nhất của bệnh này mà bạn có thể kiểm soát được là khói thuốc lá. Những người hút thuốc thường xuyên đã đặt chính bản thân và sức khỏe của họ vào sự gia tăng nguy cơ theo mỗi gói thuốc lá và mỗi năm họ tiếp tục hút.

Cơn bùng phát của khí phế thũng có thể được phòng ngừa bằng cách dùng thuốc đã được kê toa và đi khám bệnh khi gặp bất kỳ dấu hiệu hoặc triệu chứng nào của nhiễm trùng đường hô hấp hoặc thở hụt hơi. Ngoài ra, nếu bạn bị khí phế thũng, bạn nên theo đúng lịch tiêm vaccin để phòng ngừa nhiễm trùng hô hấp. Điều quan trọng là nên tiêm vaccine pneumococcal mỗi 5 năm và vaccine virus influenza hằng năm, trước khi mùa cúm diễn ra.

Tiên lượng

Khí phế thũng là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ 4 ở Hoa Kỳ. Nó là một bệnh mạn tính, tiến triển ảnh hưởng đến chất lượng sống trong ít nhất là toàn bộ quãng đời còn lại.

Tương tự như với nhiều bệnh mạn tính khác, tiên lượng của bệnh bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố. Không có cách điều trị dứt điểm nhưng có những phương pháp hiệu quả để làm chậm lại tiến trình của bệnh để cho người bệnh một cuộc sống bình thường.

Tóm lại, khí phế thũng là một loại bệnh đòi hỏi bạn phải đóng vai trò chủ động trong việc kiểm soát bệnh của mình. Bước đầu tiên là bỏ thuốc lá. Thường xuyên đến khám bệnh và uống thuốc theo toa là rất quan trọng.

Theo emedicinehealth - Y học NET dịch

Chuyên mục: , , ,

26 thg 12, 2012

Tràn dịch màng phổi

Chia sẻ bài viết này:

Tràn dịch màng phổi

Tràn dịch màng phổi là tình trạng tích tụ dịch trong khoang trống giữa phổi và thành ngực. Màng phổi là một lớp màng mỏng lợp mặt trong thành ngực và bao bọc lấy phổi. Bình thường có một lượng dịch ít nằm giữa 2 lớp của màng phổi, nó có tác dụng giống như chất dầu bôi trơn giữa phổi và thành ngực để chúng có thể trượt lên nhau dễ dàng khi di chuyển lúc bạn thở. Tràn dịch màng phổi xảy ra khi lượng dịch này tích tụ quá nhiều và tách phổi ra khỏi thành ngực.

Tràn dịch màng phổi xảy ra có thể do chấn thương hoặc bệnh lý. Nó có thể do suy tim, ung thư, tắc mạch phổi, hoặc viêm nhiễm gây ra. Nếu trong dịch màng phổi có sự hiện diện của máu thì người ta gọi tình trạng này là "tràn máu màng phổi"; còn nếu đó là mủ thì người ta gọi là "tràn mủ màng phổi"; nếu khí len vào trong các khoang trống thì hiện tượng này được gọi là tràn khí màng phổi; nếu là dịch dưỡng trấp thì hiện tượng này được gọi là tràn dưỡng trấp màng phổi. Có hai loại tràn dịch màng phổi là dịch thấm và dịch tiết.

Sự mất cân bằng giữa áp lực của động tĩnh mạch với áp lực bên trong khoang màng phổi (áp lực thẩm thấu) gây ra tràn dịch dịch thấm. Dịch thấm có chứa một ít tế bào protein và một ít chất rắn và có màu vàng xanh, trong. Những bệnh có thể gây ra tràn dịch màng phổi dịch thấm là suy tim, và ít gặp hơn là những bệnh về gan và thận.

Tràn dịch màng phổi dịch tiết có nguyên nhân từ những viêm nhiễm và ung thư. Dịch tiết có chứa một lượng lớn các tế bào protein, bạch cầu, và những tế bào miễn dịch di chuyển vào trong dịch màng phổi và tích tụ bên trong mô hoặc ở trên bề mặt mô. Dịch tiết cũng có màu vàng xanh nhưng đục hơn dịch thấm. Nếu có sự hiện diện của mủ do nhiễm trùng (tràn mủ màng phổi), dịch sẽ chuyển sang màu vàng, đục, và có mùi hôi. Những nguyên nhân thường gặp gây tràn dịch màng phổi dịch tiết là viêm phổi, lao, tắc mạch phổi (động mạch phổi bị nghẽn), ung thư, và chấn thương.

 

GIẢI PHẪU HỌC

Khoang màng phổi

Mỗi phổi được bao phủ bởi một lớp áo niêm mạc bóng, mỏng, và trong suốt được gọi là thanh mạc hay màng phổi. Lớp trong của màng phổi (lớp tạng) dính vào phổi và lớp bên ngoài (lớp thành) dính vào với thành ngực. Cả hai lớp được bao phủ bởi các tế bào trung biểu mô, các tế bào này chế tiết ra một lượng dịch nhỏ (ít hơn 2 muỗng súp) để bôi trơn giữa thành ngực với phổi. Cả hai lớp này được giữ lại với nhau bởi một lớp dịch màng phổi mỏng, tương tự như hình ảnh hai slide kính hiển vi được thấm ướt và dính lại với nhau. Khoang màng phổi còn được gọi là khoang ảo và trong thực tế nó không tồn tại. Màng phổi có chức năng bảo vệ phổi, giúp cho phổi tránh không phải tiếp xúc trực tiếp với thành ngực và cơ hoành. Các tế bào trong khoang màng phổi chủ yếu là các tế bào trung biểu mô lợp bề mặt của các màng phổi và một số tế bào bạch cầu.

Màng phổi là màng bán thấm. Một lượng dịch nhỏ liên tục được rỉ ra từ các mạch máu qua màng phổi thành. Màng phổi tạng hấp thu dịch rồi sau đó dẫn chúng đi vào hệ lympho rồi quay ngược trở về máu. Các protein trong hệ tuần hoàn và sự cân bằng áp lực giúp cho dịch từ các mạch máu không rỉ vào khoang màng phổi với một lượng lớn.

Khoang màng phổi

Khoang màng phổi

Cơ chế tích tụ dịch màng phổi

Sự tích tụ một lượng dịch lớn trong khoang màng phổi có thể xảy ra do sự phối hợp của hai yếu tố là lượng dịch rỉ ra từ các mạch máu rồi chảy vào trong mô và sự sản xuất dịch quá mức của các tế bào trung biểu mô. Dịch tích tụ trong khoang màng phổi qua ba cơ chế: gia tăng dẫn lưu dịch vào khoang màng phổi, sự gia tăng sản xuất dịch vào khoang màng phổi của các tế bào và giảm dẫn lưu dịch từ khoang màng phổi đi ra ngoài.

Sự gia tăng dẫn lưu dịch từ hệ tuần hoàn đi vào khoang màng phổi xảy ra khi có sự gia tăng áp lực ở trong hệ thống tĩnh mạch (gây mất cân bằng áp lực) hoặc khi có quá ít protein trong máu. Dịch báng (là dịch trong khoang màng bụng, hoặc ổ bụng) có thể chảy qua một lỗ nhỏ ở cơ hoành vào khoang màng phổi. Một lượng lớn dịch có thể chảy trực tiếp vào khoang màng phổi theo cách này.

Những tế bào trung biểu mô bất thường (chẳng hạn như trong bệnh bụi phổi amian) có thể sản xuất ra một lượng lớn dịch. Các tế bào bạch cầu có thể tích tụ lại để phản ứng lại với quá trình viêm nhiễm trong khoang màng phổi (tràn mủ màng phổi). Dịch do những tế bào này sản xuất ra khó dẫn lưu được hoặc do chúng được sản xuất ra với một lượng lớn vượt quá khả năng dẫn lưu bình thường của hệ lympho.

Những tế bào u ác tính có thể di chuyển (di căn) đến khoang màng phổi từ bất kỳ một khối u nào của cơ thể. Những tế bào này có thể dính vào bề mặt của màng phổi thành hay màng phổi tạng hoặc trôi nổi tự do trong khoang màng phổi và sản xuất ra một lượng dịch lớn.

Các tế bào u cũng có thể gây tắc nghẽn hệ thống lympho dẫn lưu làm tích tụ dịch. Nếu sự tắc nghẽn xảy ra ở hệ lympho trung tâm có chức năng dẫn lưu dưỡng trấp (một loại dịch giống như sữa có chứa các bạch huyết và mỡ) đến ống ngực có thể gây ra tràn dịch dưỡng trấp màng phổi.

NGUYÊN NHÂN

Những nguyên nhân thường gặp gây tràn dịch màng phổi bao gồm suy tim, lao, tắc mạch phổi, di căn (là hiện tượng những khối ung thư lan tràn đến màng phổi), lymphoma (ung thư ở hệ lympho), và chấn thương. Những nguyên nhân ít gặp hơn bao gồm những bệnh về gan và thận, nhiễm virus và nấm, u tế bào trung biểu mô (bao gồm những khối u lành hoặc ác xuất phát từ những tế bào trung biểu mô; u ác tính thường gặp ở những bệnh nhân tiếp xúc với bụi amiang), và phản ứng ngược của thuốc. Tràn dịch màng phổi cũng có thể là một biến chứng xuất hiện sau phẫu thuật tim.

Tràn máu màng phổi (tràn dịch có lẫn máu bên trong) có nguyên nhân từ chấn thương. Tràn dưỡng trấp màng phổi có nguyên nhân từ những bệnh u tân sinh (ung thư) và chấn thương là suy giảm chức năng dẫn lưu của hệ lympho.

Một số thuốc có thể gây ra bệnh lupus. Đây là một hội chứng viêm mạn tính có thể có các biểu hiện như viêm màng phổi, tràn dịch màng phổi và một số biểu hiện khác. Hội chứng này thường sẽ tự khỏi sau khi người bệnh ngừng sử dụng thuốc. Đó là những loại thuốc có chứa procainimide (chống loạn nhịp tim), hydralazine (chống tăng huyết áp), isoniazid (kháng sinh), penicillamine (điều trị viêm khớp dạng thấp, và sulfonamide (kháng sinh).

TRIỆU CHỨNG

Những triệu chứng thường gặp nhất của tràn dịch màng phổi là khó thở và đau ngực. Những dấu hiệu của tràn dịch màng phổi được gây ra do phổi bị chèn ép. Ở một số trường hợp có thể bệnh nhân có triệu chứng ho và có thể sốt trong tràn mủ màng phổi.

CHẨN ĐOÁN

Thông thường tràn dịch màng phổi có thể được chẩn đoán ra nhờ X quang ngực đơn giản, tuy nhiên có thể cần phải sử dụng thêm những phương tiện chẩn đoán hình ảnh khác để xác nhận lại sự hiện diện của dịch trong màng phổi. Siêu âmCT ngực thường được sử dụng để làm điều này. Một kiểu chụp X quang đặc biệt, chụp bệnh nhân ở tư thế nằm nghiêng, cũng có thể giúp xác định lại sự hiện diện của dịch trong màng phổi và giúp bác sĩ ước lượng được lượng dịch vì khi bệnh nhân nằm nghiêng như vậy, dịch tự do trong lồng ngực sẽ dịch chuyển và đọng lại dọc theo mặt bên của thành ngực, khi đó bác sĩ sẽ đo độ sâu của vùng tụ dịch để ước lượng được lượng dịch có trong lồng ngực.

Thông thường cũng cần phải lấy một ít dịch ra ngoài để khảo sát giúp xác định nguyên nhân gây ra tràn dịch. Nếu như tràn dịch có nguyên nhân rõ ràng, chẳng hạn như suy tim sung huyết nặng, và dịch tích tụ ở cả 2 bên của lồng ngực, các bác sĩ sẽ cho điều trị thử nhắm trực tiếp vào bệnh nguyên nhân và nếu nhờ vậy tình trạng tràn dịch được giải quyết thì có thể sẽ không cần thiết phải lấy dịch ra ngoài để khảo sát. Do nguyên nhân gây tràn dịch có thể là lành tính nhưng cũng có thể là ác tính nên thông thường các bác sĩ sẽ phải lấy dịch ra để thử. Thủ thuật rút dịch ra ngoài còn được gọi là thủ thuật chọc dò màng phổi. Đôi khi người ta cần lấy một ít mẫu tế bào từ màng phổi (sinh thiết màng phổi) để xác định nguyên nhân gây tràn dịch.

Chọc dò màng phổi

Thủ thuật chọc dò màng phổi được thực hiện để lấy một ít dịch màng phổi ra ngoài để khảo sát hoặc rút ra một lượng lớn dịch ra ngoài nhằm mục tiêu điều trị. Bệnh nhân sẽ được ngồi ở bàn, nghiêng người chống cẳng tay lên bàn. Vị trí của dịch có thể được xác định qua siêu âm hoặc bằng cách dùng tay gõ lên thành ngực. Thủ thuật gõ này được thực hiện như sau: bác sĩ đặt 1 ngón tay lên thành ngực bệnh nhân rồi dùng 1 ngón của bàn tay còn lại gõ lên ngón tay đó. Phổi chứa đầy khí nên khi gõ sẽ cho âm rỗng, nếu phổi được bao phủ bởi dịch thì khi gõ sẽ cho âm đục.

Tư thế chọc dò dịch màng phổi

Tư thế chọc dò dịch màng phổi

Vị trí chọc và khu vực xung quanh sẽ được sát trùng bằng betadine. Sau đó bác sĩ sẽ đâm một cây kim nhỏ vào da để bơm lidocaine (một loại thuốc gây tê) vào. Khi da đã bị tê, bác sĩ sẽ đâm kim vào sâu hơn để gây tê lớp mô nằm bên dưới bằng lidocaine. Tiếp sau đó, kim sẽ được đâm vào sâu dần dần và bơm lidocaine ra ngoài dọc theo đường đi cho đến khi vào được khoang màng phổi. Dấu hiệu cho biết kim đã vào được khoang màng phổi là khi có ít dịch màng phổi được hút ngược trở vào bên trong lòng kim. Khi vùng mô từ da cho đến màng phổi thành (lớp ngoài của màng phổi) được gây tê, một cây kim khác hơi lớn hơn 1 chút sẽ được đưa vào theo đường đã được gây tê trước đó để đến khoang màng phổi. Kim lớn sẽ giúp rút dịch ra một cách hiệu quả hơn.

Các bác sĩ thường dùng 1 catheter (một loại ống) bằng nhựa để bọc lấy bên ngoài cây kim thứ hai này rồi luồn theo nó để đưa vào khoang màng phổi, sau đó kim sẽ được rút ra ngoài. Thao tác này tương tự như khi đặt catheter để truyền tĩnh mạch.


Các bác sĩ sẽ dẫn lưu dịch ra bên ngoài bằng cách cắm catheter vào một ống nhựa dẻo nối với một chai bên trong là chân không, khi đó dịch sẽ được hút ra bên ngoài. Lượng dịch có thể lấy ra ngoài có thể từ 30mL (khoảng 2 muỗng soup) đến hơn 1 lít. Thường các bác sĩ sẽ cho chụp lại phim X quang ngực sau khi thực hiện thủ thuật để kiểm tra xem bệnh nhân có bị tràn khí màng phổi hay không.


Đôi khi có thể xảy ra những tai biến khi chọc dò, chúng có thể là tràn khí màng phổi (có khí hiện diện trong khoang màng phổi), chảy máu, hạ huyết áp, phù phổi tái dãn nở và nhiễm trùng. Có thể sẽ xuất hiện triệu chứng ho khi phổi nở ra trở lại.


Tràn khí màng phổi thường xảy ra khi kim đâm trúng phổi hoặc khi khí bên ngoài len vào khoang màng phổi khi chọc dò. Hiện tượng này có thể xảy ra vào lúc đưa kim vào hoặc khi phổi dãn nở ra trở lại trong lúc dịch đang được dẫn lưu. Thông thường sẽ không có triệu chứng nào xuất hiện nhưng bệnh nhân có thể cảm thấy khó thở nhẹ. Có thể cần phải đặt một ống vào bên trong phổi để giúp phổi nở ra trở lại, và rút ống ra khi lỗ hổng đã được bịt kín. Nhiễm trùng và xuất huyết nặng rất hiếm khi xảy ra.


Hạ huyết áp cũng rất hiếm khi xảy ra và nó có nguyên nhân từ phản ứng mạch máu - thần kinh phế vị; nói một cách đơn giản hơn thì có nghĩa là những kích thích thần kinh gây ra hạ huyết áp. Khi một lượng dịch lớn được rút ra ngoài và phổi trước đó bị chèn ép nặng dãn nở ra lại, phổi có thể bị trám đầy trở lại bởi dịch. Hiện tượng này được gọi là phù phổi tái dãn nở. Hiện tượng này xảy ra ở những bệnh nhân được dẫn lưu một lượng lớn dịch ra ngoài nhưng trường hợp này hiếm khi xảy ra. Còn nhiễm trùng là nguy cơ của mọi thủ thuật có xâm lấn vào cơ thể.

Sinh thiết màng phổi kín
Đôi khi cần phải lấy một ít mẫu của màng phổi để khảo sát giúp xác định nguyên nhân gây tràn dịch. Sinh thiết màng phổi kín là thủ thuật lấy đi một mẫu mô của màng phổi theo cùng một cách khi chọc dò màng phổi, ngoại trừ việc phải sử dụng loại kim khác. Có 2 loại kim khác nhau thường được dùng có cùng một tính chất.

Kim dùng để sinh thiết màng phổi có một các móc ở đầu hoặc có một lỗ có bờ xung quanh rất sắc.


Thủ thuật này sẽ gây hơi khó chịu hơn thủ thuật chọc dò, và thường sẽ được cho gây tê. Sau khi gây tê da và vùng mô nằm giữa da và màng phổi, kim sẽ được đâm vào dọc theo đường trước đó để tới khoang màng phổi. Khi kim thụt lại, cạnh sắc của nó sẽ móc vào màng phổi. Khi màng phổi bị móc vào mặt cắt của kim, bác sĩ sẽ dùng tay điều khiển kim để cắt một mẫu nhỏ của màng phổi. Sau đó mẫu mô của màng phổi sẽ được mang ra bằng cách rút kim ra ngoài hoặc bằng cách hút một ít dịch qua kim, lượng dịch này cũng sẽ mang một ít mẫu mô sinh thiết theo nó đi vào ống tiêm. Thông thường sẽ lấy vài mẫu khác nhau.


Về cơ bản thì những nguy cơ của thủ thuật này cũng tương tự như thủ thuật chọc dò màng phổi, nhưng có gia tăng hơn một chút. Khi được thực hiện thủ thuật này, bệnh nhân sẽ có nguy cơ bị tràn khí và xuất huyết cao hơn, ngoài ra tỷ lệ bị hạ huyết áp cũng cao hơn. Cắt vào màng phổi sẽ gây kích thích các dây thần kinh làm chúng phản ứng lại gây hạ huyết áp thoáng qua, đây được gọi là đáp ứng mạch-phế vị. Cho atropine cho bệnh nhân trước khi thực hiện thủ thuật có thể phòng được phản ứng mạch-phế vị này.


Sinh thiết màng phổi kín chỉ có thể lấy được những mẫu mô của màng phổi thành, tức lớp ngoài. Ngoài ra, kích thước của mẫu mô lấy về tương đối nhỏ và bác sĩ không thể tận mắt thấy được màng phổi.

Sinh thiết qua nội soi lồng ngực
Ở thủ thuật này, bác sĩ có thể quan sát được màng phổi và lấy được một mẫu mô lớn của nó. Nó được thực hiện bằng cách sử dụng một hệ thống cho phép chỉ rạch một đường rất nhỏ ở trên da và với sự giúp đỡ của 1 camera để có thể quan sát được tốt hơn. Thủ thuật này được thực hiện dưới gây mê toàn thể hoặc thuốc tê tĩnh mạch - với gây tê cục bộ. Bác sĩ sẽ rạch vài đường nhỏ trên da; đôi khi chỉ cần rạch 1 đường. Ống nội soi lồng ngực nhỏ sẽ được đưa vào qua đường rạch để quan sát trực tiếp màng phổi. Forcep dùng để sinh thiết sẽ được đưa qua cùng 1 đường với ống kính hoặc đưa qua 1 đường rạch khác để vào màng phổi và lấy mẫu mô sinh thiết.


Những biến chứng của thủ thuật này bao gồm: nguy cơ nhỏ gây chảy máu và nhiễm trùng. Tràn khí màng phổi luôn hiện diện và cần phải được đặt ống vào lồng ngực trong một thời gian ngắn sau thủ thuật. Cũng có thể dùng thủ thuật này để sinh thiết một mẫu mô nhỏ của màng phổi cũng được.

Sinh thiết màng phổi hở
Đôi khi cần phải sinh thiết màng phổi hở dưới gây mê toàn thể. Phẫu thuật viên sẽ rạch một đường ở mặt bên lồng ngực bệnh nhân và đi vào khoang màng phổi, điều này cho phép có thể khảo sát được màng phổi ở mức tối đa, lấy được mẫu mô sinh thiết lớn của màng phổi và nếu cần thì lấy được luôn của cả phổi nằm bên dưới.


ĐIỀU TRỊ

Điều trị tràn dịch màng phổi phụ thuộc vào nguyên nhân gây bệnh. Chẳng hạn như điều trị suy tim xung huyết có thể làm giảm tràn dịch màng phổi trong hầu hết các trường hợp. Ngừng những loại thuốc đang dùng nếu nó là thủ phạm gây tràn dịch. Có hai trường hợp cần phải được chú ý đặc biệt đó là tràn mủ màng phổi và tràn dịch ác tính.

Tràn mủ màng phổi

Viêm phổi do vi trùng có thể gây tràn dịch màng phổi không nhiễm trùng hay còn được gọi là tràn dịch cận viêm phổi. Khi dịch màng phổi bị nhiễm trùng hoặc viêm nhẹ, nó được gọi là tràn dịch cận viêm phổi có biến chứng hoặc viêm mủ màng phổi. Nhiễm trùng trong khoang màng phổi có thể gây viêm nặng, gây dày dính và xơ xẹo hóa khoang màng phổi và làm xẹp phổi cho đến khi tình trạng nhiễm trùng được giải quyết. Nhiễm trùng rất khó có thể diệt trừ được tận gốc mà không cần phải dẫn lưu dịch ra ngoài.

Nếu chọc dẫn lưu màng phổi ở những bệnh nhân bị viêm mủ màng phổi, sau khi chọc hút thì dịch có thể sẽ tích tụ trở lại một cách nhanh chóng. Do đó, cách điều trị là dẫn lưu hết dịch hoàn toàn ra khỏi khoang màng phổi và làm cho nó trống rỗng cho đến khi tình trạng nhiễm trùng đã hết.

Phương pháp điều trị tràn mủ màng phổi thường được sử dụng nhất là dẫn lưu dịch ra ngoài bởi một ống dẫn lưu đặt ở ngực. Cần phải được sử dụng kháng sinh bất kể sử dụng phương pháp dẫn lưu nào. Ống dẫn lưu lồng ngực sẽ được đặt vào khoang màng phổi ở vị trí giữa các xương sườn (khe liên sườn) ở cạnh bên lồng ngực bệnh nhân.

Thường bệnh nhân sẽ được cho sử dụng thuốc gây tê nhẹ hoặc thuốc giảm đau tiêm tĩnh mạch. Da bệnh nhân sẽ được bôi iodine có chứa những chất làm giảm số lượng vi trùng trên da và giới hạn lại nguy cơ bị nhiễm trùng. Da và vùng mô nằm giữa da và khoang màng phổi được gây tê bằng một kim nhỏ, tương tự như chọc dò màng phổi.

Bác sĩ sẽ rạch da bệnh nhân rồi tách mô dưới da dần dần cho đến khi vào được khoang màng phổi. Một số bác sĩ có thể dùng trocar thay thế cho việc tách mô để đặt ống dẫn lưu. Ống dẫn lưu, có chu vi bằng khoảng một ngón tay nhỏ sẽ được đặt vào khoang màng phổi. Sau đó ống dẫn lưu sẽ được khâu cố định lại và vùng da xung quanh ống cũng được khâu lại. Ống dẫn lưu thường được gắn vào máy hút để có thể dẫn lưu được dễ dàng. Ống dẫn lưu sẽ được lưu lại trong khoảng vài ngày cho đến khi dịch màng phổi không còn được tạo ra nữa và lượng dịch được dẫn lưu ra ngoài xuống còn mức tối thiểu.

Hiếm khi gặp biến chứng, chúng có thể là xuất huyết, nhiễm trùng, và đâm trúng phổi. Việc đặt ống dẫn lưu ở phổi có gây đôi chút khó chịu và vị trí đặt ống sẽ vẫn còn cảm giác khó chịu cho đến khi ống đã được rút ra. Thông thường bệnh nhân được đặt ống sẽ cần phải sử dụng thuốc giảm đau hệ thống, có thể dưới dạng viên uống hoặc dạng chích, cho đến khi ống được rút ra ngoài.

Có thể sẽ không thể dẫn lưu hết dịch ra ngoài được do sự hình thành các vách bằng fibrin. Fibrin là một phân tử đóng vai trò chính trong sự hình thành cục máu đông (quá trình đông máu). Trong viêm mủ màng phổi, sẽ có rất nhiều fibrin và chúng sẽ tạo ra các túi dịch (tràn dịch có vách ngăn) tạo thành bức tường ngăn cách dịch với vị trí dẫn lưu. Có hai cách để giải quyết tình huống này: đó là dùng phương pháp hóa học hoặc phẫu thuật.

Một loại hóa chất có khả năng phân giải fibrin, chẳng hạn như urokinase và streptokinase, có thể được nhỏ vào ống dẫn lưu mỗi ngày trong vòng vài ngày. Hóa chất này có thể phân giải các chỗ kết dính bởi fibrin giúp cho dịch có thể dẫn lưu ra được bên ngoài. Hoặc các bác sĩ cũng có thể dùng phương pháp phẫu thuật dưới gây mê toàn thể để có thể tự tay bóc gỡ các chỗ dính và dẫn lưu dịch ra khỏi khoang màng phổi. Phẫu thuật viên sẽ đặt ống vào khoang màng phổi để có thể tiếp tục dẫn lưu sau khi phẫu thuật (hậu phẫu), cho đến khi dịch thôi không còn được tạo ra nữa, thông thường là trong vòng vài ngày.

Tràn dịch màng phổi ác tính

Tràn dịch màng phổi ác tính thông thường được điều trị để làm giảm bớt triệu chứng khó thở và/hoặc đau ngực gây ra bởi u trung biểu mô (gây ra bởi bệnh amiang phổi) hoặc những khối u tân sinh khác vốn là di căn ở những nơi khác trên cơ thể đến; vị trí u nguyên phát (vị trí gốc, đầu tiên xuất hiện khối u) thường là phổi và vú.

Tỷ lệ u di căn thấp hơn rất nhiều so với u nguyên phát của màng phổi (u trung biểu mô). Có 4 cách để điều trị tràn dịch màng phổi ác tính và tùy theo từng trường hợp mà các bác sĩ sẽ có những lựa chọn điều trị khác nhau. Cách thứ nhất là hóa trị. Nếu khối u đáp ứng với cách điều trị này, triệu chứng tràn dịch có thể sẽ được giải quyết. Các điều trị thứ hai là chọc hút dịch cách quãng. Nếu thời gian tích tụ dịch trở lại chậm (từ 6, 7 tháng trở lên), các bác sĩ có thể giải quyết tràn dịch bằng cách chọc hút dịch màng phổi theo từng thời điểm cách quãng nhau. Cách điều trị thứ ba là làm dính màng phổi, được sử dụng trong trường hợp tràn dịch tái phát nhanh sau khi dẫn lưu. Cách điều trị thứ tư là dùng shunt (cầu nối) màng phổi-màng bụng.

Thủ thuật làm dính màng phổi

Đây là loại thủ thuật thường được dùng để điều trị tràn dịch màng phổi ác tính, và đôi khi nó cũng được dùng để kiểm soát tràn dịch màng phổi không phải là ác tính. Thủ thuật làm dính màng phổi sử dụng những chất gây xơ cứng làm cho bề mặt màng phổi bị viêm và hóa sẹo làm cho màng phổi thành và màng phổi tạng dính lại với nhau làm cho khoang màng phổi bị đóng lại và dịch không thể tích tụ lại được nữa.

Có hai phương pháp. Phương pháp thứ nhất là dùng ống đặt vào lồng ngực để dẫn lưu dịch ra ngoài. Sau khi dịch đã được dẫn lưu hết, chất gây xơ sẽ được bơm vào màng phổi thông qua ống. Chất này sẽ tự phát tán trong vòng vài giờ rồi sau đó ống dẫn lưu sẽ được gắn vào với máy hút. Máy hút sẽ kéo hai bề mặt của màng phổi thành và màng phổi tạng lại với nhau giúp cho chúng bị hóa sẹo lại với nhau. Cần phải mất vài ba ngày để có thể dẫn lưu dịch ra ngoài đến mức vừa đủ để có thể bơm chất gây xơ vào bên trong. Ống dẫn lưu sẽ được lưu lại, thông thường trong vòng vài ngày, cho đến khi lượng dịch chảy ra ngoài giảm xuống đến mức hợp lý. Tuy nhiên điều bất tiện là cần phải mất đến vài ngày mới hoàn tất. Như đã được nói ở trên, ống dẫn lưu khi được đặt vào bên trong ngực thường sẽ gây khó chịu và bệnh nhân sẽ cần phải dùng đến thuốc giảm đau.

Phương pháp thứ hai là nội soi lồng ngực. Bác sĩ sẽ rạch một hoặc vài đường trên da ngực để đưa ống nội soi vào qua vết rạch giúp quan sát được màng phổi. Sau đó, chất làm xơ hóa sẽ được các bác sĩ đặt vào bề mặt của màng phổi khi đang quan sát trực tiếp qua ống nội soi. Những biến chứng của thủ thuật này bao gồm nguy cơ nhỏ bị chảy máu và nhiễm trùng. Luôn xảy ra tràn khí màng phổi và cần phải đặt ống dẫn lưu lồng ngực một thời gian ngắn sau khi nội soi. Những người đề xuất cho phương pháp này cho rằng chất làm xơ hóa có thể cho hiệu quả cao hơn khi được bôi trực tiếp vào màng phổi. Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào cho thấy có phương pháp nào trong số hai phương pháp kể trên tốt hơn cái còn lại. Những chất làm xơ hóa có thể là talc, bleomycin, và doxycycline.

Tuy nhiên, không phải bệnh nhân nào bị tràn dịch màng phổi hệ thống đều thích hợp để thực hiện thủ thuật làm dính màng phổi, và thủ thuật này cũng không phải có hiệu quả trên tất cả các trường hợp. Những bệnh nhân có thời gian sống thấp hơn vài tháng thông thường không thích hợp để được thực hiện thủ thuật. Những bệnh nhân có tình trạng chức năng rất thấp và những bệnh nhân bị ép phổi cũng không thích hợp để được thực hiện thủ thuật này. Phổi bị ép sẽ không dãn nở ra được sau khi dịch đã được dẫn lưu hết ra ngoài.

Phổi bị ép là khi màng phổi tạng bị bó quá mức bởi những khối u hay sẹo làm cho nó không dãn nở ra được và bó chặt lá phổi nằm bên trong lại không cho dãn nở ra. Phổi cũng có thể không tái dãn nở ra được nếu như có khối u gây chèn ép khí phế quản làm cho không khí không thể di chuyển vào vùng phổi nằm ở hạ lưu của vị trí bị chèn ép được. Nếu phổi không thể tái dãn nở được thì thủ thuật làm dính màng phổi cũng không có tác dụng. Những bệnh nhân có dịch màng phổi có độ pH thấp cũng không thực hiện được thủ thuật này.

Thủ thuật cọ sát màng phổi bằng hoặc không cần bằng phẫu thuật

Những bệnh nhân thất bại điều trị với thủ thuật làm dính màng phổi và có khả năng phẫu thuật được có thể được xem xét để thực hiện điều trị bằng thủ thuật cọ sát màng phổi bằng hoặc không cần bằng phẫu thuật. Thủ thuật này được thực hiện bằng cách phẫu thuật viên sẽ làm cho các bề mặt của màng phổi thô ráp lên bằng cơ học để gây ra hiện tượng viêm và tổn thương để chúng có thể hóa sẹo và kết dính lại với bề mặt màng phổi đối diện. Trong thủ thuật này các bác sĩ cũng có thể sẽ cắt bỏ màng phổi. Thủ thuật này ít khi được thực hiện.

Đặt shunt (ống thông) giữa màng phổi và màng bụng.

Thủ thuật này có thể sẽ được xem xét thực hiện ở một số bệnh nhân được lựa chọn. Một đầu của catheter (ống thông) được đặt vào khoang màng phổi, catheter sẽ được luồn dưới da và đầu còn lại được đặt vào trong ổ bụng (khoang màng bụng/khoang phúc mạc). Bên trong lòng catheter có một van 1 chiều và có một đoạn có thể co bóp để bơm dịch từ khoang màng phổi xuống dưới khoang phúc mạc. Mặt hạn chế duy nhất của thủ thuật này là catheter có thể bị bít tắc. Dịch bên trong có nhiều tế bào ác tính sẽ được bơm vào bên trong ổ bụng. Thủ thuật này có thể sẽ cho hiệu quả cao trong việc làm giảm các triệu chứng.

Theo Pulmonology channel - Y học NET dịch.

Chuyên mục: , , ,