Hiển thị các bài đăng có nhãn Tim mạch. Hiển thị tất cả bài đăng

14 thg 3, 2013

Sách: Bệnh học tim mạch

Chia sẻ bài viết này:
Bệnh học tim mạch (Sách gồm 3 Tập)
Tác giả : Phạm Nguyễn Vinh
Nhà xuất bản : NXB Y Học
Giá bán 1 tập: 200k. Có bán tại các hiệu sách
“Bệnh tim mạch là một trong những bệnh hàng đầu của con người tại các nước phát triển và cả những nước đang phát triển. Trong thế kỷ qua, nhờ sự đầu tư nghiên cứu tích cực, hiểu biết về loại bệnh này ngày càng sâu rộng hơn. Rất nhiều sách, tạp chí trình bày các hiểu biết về các nghiên cứu sâu tronglĩnh vực này. Các nghiên cứu về tim mạch không chỉ trong lĩnh vực nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng, các nghiên cứu quan sát mà còn các nghiên cứu cơ bản. Bộ sách Bệnh học tim mạch nà là thành quả của nhiều thầy thuốc thự hành tim mạch trong cả nước, bao gồm các Bác sĩ lâm sàng và Bác sĩ cận lâm sàng. Mục tiêu của bộ sách là trình bày một cách có hệ thống sự hiểu biết về lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh lý tim mạch. Bộ sách bao gồm 3 tập đề cập đến các vấn đề tim mạch cần thiết cho người thầy thuốc tim mạch, thầy thuốc nội khoa, các sinh viên Y khoa và các điều dưỡng.”
Dowload sách: dạng pdf
Tập 1: Link
Tập 2: Link
Chuyên mục: , , , ,

25 thg 2, 2013

Suy tĩnh mạch chi dưới và cách điều trị

Chia sẻ bài viết này:

Suy giãn tĩnh mạch chân không nguy hiểm đến tính mạng, chỉ gây khó chịu, đau đớn và mất thẩm mỹ, cản trở sinh hoạt. Tuy nhiên, biến chứng của bệnh này là sự hình thành các cục máu đông trong lòng tĩnh mạch, các cục máu này có thể gây tắc mạch máu tại chỗ hoặc di chuyển theo dòng máu và gây tắc mạch chỗ khác, trong đó nguy hiểm nhất là tắc mạch phổi, có thể dẫn đến suy hô hấp và tử vong.
Vì sao mắc bệnh?
Bệnh suy giãn tĩnh mạch chi chưa được xác định rõ ràng nguyên nhân. Tuy nhiên, một số yếu tố nguy cơ suy giãn tĩnh mạch chân gây ra do tổn thương chức năng các van một chiều của hệ tĩnh mạch ngoại biên đã được xác nhận như: quá trình thoái hóa do tuổi tác; do tư thế sinh hoạt hay làm việc phải đứng hay ngồi một chỗ lâu, ít vận động, phải mang vác nặng... tạo điều kiện cho máu bị dồn xuống hai chân, làm tăng áp lực trong các tĩnh mạch ở chân, lâu ngày sẽ gây tổn thương các van tĩnh mạch một chiều. Khi các van này bị suy yếu sẽ giảm khả năng ngăn chặn luồng máu chảy ngược xuống dưới do tác dụng của trọng lực, dẫn đến ứ máu ở hai chân; các yếu tố nguy cơ như: chế độ làm việc (phải đứng nhiều, làm việc trong môi trường ẩm thấp), béo phì, chế độ ăn ít chất xơ và vitamin...

Suy tĩnh mạch chi dưới và cách điều trị 1
 Hình ảnh giãn tĩnh mạch nổi trên da.

Dấu hiệu nhận biết

Ở giai đoạn đầu, các triệu chứng của bệnh suy tĩnh mạch chi dưới thường mờ nhạt và thoáng qua, người bệnh có biểu hiện: đau chân, nặng chân, mỏi chân, phù nhẹ khi đứng lâu ngồi nhiều, vọp bẻ, chuột rút vào buổi tối, châm chích, dị cảm như kiến bò vùng cẳng chân về đêm. Những triệu chứng này thường không rõ ràng nên người bệnh ít chú ý và dễ bỏ qua.
Giai đoạn tiến triển bệnh sẽ gây phù chân, có thể phù ở mắt cá hay bàn chân, đôi khi người bệnh chỉ có cảm giác mang giày dép chật hơn bình thường. Vùng cẳng chân xuất hiện chàm da, thay đổi màu sắc da do máu ứ ở tĩnh mạch lâu ngày làm rối loạn biến dưỡng. Các tĩnh mạch trương phồng lên gây cảm giác nặng, đau nhức chân, máu thoát ra ngoài mạch gây phù chân, nặng hơn thì có thể thấy các búi tĩnh mạch trương phồng nổi rõ trên da, các mảng bầm máu trên da...
Các tĩnh mạch giãn to nếu không được điều trị, lấy bỏ sẽ có nguy cơ tạo lập cục máu đông, gây viêm tĩnh mạch nông huyết khối. Các cục máu đông tạo lập trong lòng mạch có thể bong ra, theo dòng máu trôi ngược lên phổi, làm tắc mạch phổi, nguy cơ tử vong cao. Các tĩnh mạch giãn to dần, đến một lúc nào đó sẽ bị vỡ khi chấn thương hay va chạm nhẹ, gây xuất huyết, bầm máu. Sự rối loạn biến dưỡng da ở cẳng chân lâu ngày sẽ dẫn đến chàm, tăng sắc tố da và loét chân do ứ đọng. Tình trạng loét chân do tĩnh mạch là một biến chứng rất khó điều trị.

Suy tĩnh mạch chi dưới và cách điều trị 2
 Tĩnh mạch bình thường và tĩnh mạch bị suy.

Có cách nào điều trị?

Có 3 biến chứng mà người mắc bệnh suy và giãn tĩnh mạch chân có thể gặp phải là huyết khối (máu đông), xuất huyết (chảy máu) và loét chân.
Việc điều trị bệnh suy tĩnh mạch mạn tính chi dưới đòi hỏi sự kết hợp giữa dùng thuốc, phẫu thuật và vật lý trị liệu tại các trung tâm chuyên sâu về bệnh này.
Điều trị nội khoa với các thuốc làm bền thành mạch nhưng phần lớn chỉ có tác dụng trong giai đoạn đầu của giãn tĩnh mạch. Một số thầy thuốc còn áp dụng phương pháp tiêm gây xơ tại chỗ với các thuốc làm xơ hóa lòng mạch máu.
Phẫu thuật bằng phương pháp Stripping lấy bỏ các tĩnh mạch nông bị giãn bằng một dụng cụ chuyên dùng cho phép rút các tĩnh mạch và phương pháp Chivas lấy các đoạn tĩnh mạch bị giãn của hệ thống xuyên, đây là phương pháp điều trị khá triệt để, có tỷ lệ tái phát thấp. Phương pháp làm lạnh với nitơ lỏng -90oC để làm nghẹt lòng tĩnh mạch qua một ống thông trong lòng tĩnh mạch. Phương pháp này cho tỷ lệ tái phát khá cao. Ngoài ra, hiện nay người ta còn áp dụng phương pháp can thiệp nội mạch loại bỏ tĩnh mạch suy bằng tiêm chất tạo bọt; điều trị bằng laser.
Một phương pháp mới được Viện Tim mạch Quốc gia và Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM bắt đầu ứng dụng trong năm 2012 là loại bỏ tĩnh mạch suy bằng năng lượng sóng có tần số radio. Đây là một phương pháp có nhiều ưu điểm, hơn hẳn các phương pháp kinh điển, bởi phương pháp này có tỷ lệ thành công rất cao, điều trị triệt để được tĩnh mạch bị suy, an toàn và ít tai biến.
Cách phòng ngừa bệnh
Suy giãn tĩnh mạch là bệnh lý mang tính xã hội, liên quan nhiều đến chế độ ăn uống và làm việc. Vì vậy, khuyến cáo chung là nên tránh đứng lâu, ngồi nhiều, nhất là nhân viên văn phòng, không nên ngồi làm việc một chỗ liên tục trong suốt buổi làm việc, tranh thủ giải lao, đi lại vận động vài phút trong khoảng thời gian làm việc từ 30 - 60 phút. Trong lúc ngồi làm việc, có thể phối hợp các bài tập vận động chân như co duỗi các ngón chân, gập duỗi cổ chân, nhón gót... để máu lưu chuyển tốt hơn. Ăn nhiều rau quả, chất xơ, vitamin. Nên tập thể dục để giảm cân như: bơi lội, đi xe đạp, tập dưỡng sinh.
PGS.TS. Đinh Hương
Chuyên mục: , , ,

5 hiểu lầm thường gặp về cholesterol

Chia sẻ bài viết này:

Có nhiều suy nghĩ sai lầm về cholesterol và bệnh tim mạch mà chúng ta vẫn hay gặp phải. Dưới đây là 5 sai lầm thường gặp trong chế độ ăn uống của mỗi người.

HDL cao bảo vệ tim mạch
5 hiểu lầm thường gặp về cholesterol 1
Nghiên cứu đăng trên tạp chí The Lancet chỉ ra rằng chỉ số HDL (cholesterol tốt) cao không trực tiếp giúp chống lại bệnh tim. Thông tin mới này có thể làm thay đổi suy nghĩ của chúng ta về cholesterol HDL (tốt), LDL (xấu) và sức khỏe tim mạch khi hầu hết đều cho rằng nếu cholesterol LDL cao sẽ làm tăng nguy cơ bệnh tim, còn HDL cao sẽ giúp có trái tim khỏe mạnh.
 
Nghiên cứu được tiến hành trên những người có tỷ lệ cholesterol HDL cao tuy nhiên bị mắc phải các triệu chứng bệnh tim (không có di truyền gen). Các nhà nghiên cứu tìm ra rằng nhóm có tỷ lệ HDL cao vẫn có tỷ lệ mắc bệnh tim đáng kể. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa HDL là cholesterol xấu. Những thói quen có lợi cho sức khỏe như luyện tập thể dục, thể thao và ăn uống đầy đủ chất xơ, chất béo không bão hòa đơn sẽ làm tăng HDL và làm giảm nguy cơ bệnh tim cho chúng ta.
 
Không nên ăn tôm (hoặc thức ăn hàm lượng cholesterol cao) nếu cholesterol cao
5 hiểu lầm thường gặp về cholesterol 2
Thông thường nếu bệnh nhân có cholesterol cao sẽ phải có chế độ ăn kiêng phù hợp và tránh các thực phẩm chứa nhiều cholesterol. Không hẳn là vậy. Chúng ta cần biết chất béo bão hòa có ảnh hưởng rõ rệt đến việc tăng hay giảm tỷ lệ cholesterol. Do vậy việc ăn kiêng các thực phẩm có hàm lượng cholesterol cao là không đúng khoa học. Bổ sung trứng, tôm và các thực phẩm chứa cholesterol trung bình khác sẽ là một chế độ ăn bổ dưỡng cho sức khỏe.
 
Khoai tây chiên chứa cholesterol
5 hiểu lầm thường gặp về cholesterol 3
Khoai tây chiên cùng với các loại hoa quả, rau và ngũ cốc nguyên hạt không chứa cholesterol. Tuy nhiên, để chắc chắn cần kiểm tra kỹ chất béo bão hòa trong bảng dinh dưỡng trên túi khoai tây vì đây là chất thường sản sinh ra nhiều cholesterol. Khoai tây miếng cũng là loại thực phẩm có hàm lượng calo cao.
 
Ngũ cốc yến mạch nướng - thực phẩm làm giảm cholesterol tốt nhất
5 hiểu lầm thường gặp về cholesterol 4
Thực tế là các loại ngũ cốc yến mạch này có một số chất xơ hòa tan giảm hàm lượng cholesterol, tuy nhiên bạn có thể hấp thụ hàm lượng cao hơn từ các loại thực phẩm như bột yến mạch, chuối, lê, đậu và cây họ cam quýt. Nếu bạn có ý định thưởng thức loại ngũ cốc này, cần đảm bảo đủ hàm lượng chất xơ vào buổi sáng bằng hoa quả.
 
Muốn giảm cholesterol, ăn nhiều đậu nành
5 hiểu lầm thường gặp về cholesterol 5
Nghiên cứu chỉ ra rằng protein đậu nành có ảnh hưởng không đáng kể. Lợi ích thực sự có thể liên quan đến việc sử dụng đậu nành như một loại thực phẩm thay thế cho các thực phẩm có hàm lượng chất béo bão hòa cao. Một số nghiên cứu chỉ ra rằng nếu muốn giảm cholesterol, không chỉ bổ sung thực phẩm giàu protein đậu nành mà cần đảm bảo chất xơ, sterol thực vật và các loại hạt như hạnh nhân.
 
Lưu ý: Cần giảm cholesterol LDL và tăng cholesterol HDL bằng cách: luyện tập thể dục thể thao, ăn chất béo không bão hòa đơn (như trong oliu, dầu canola và trái bơ) thay cho chất béo bão hòa và trans fat; bổ sung thêm chất xơ hòa tan.

Theo Dân trí
Chuyên mục: , ,

5 hiểu lầm thường gặp về cholesterol

Chia sẻ bài viết này:

Có nhiều suy nghĩ sai lầm về cholesterol và bệnh tim mạch mà chúng ta vẫn hay gặp phải. Dưới đây là 5 sai lầm thường gặp trong chế độ ăn uống của mỗi người.

HDL cao bảo vệ tim mạch
5 hiểu lầm thường gặp về cholesterol 1
Nghiên cứu đăng trên tạp chí The Lancet chỉ ra rằng chỉ số HDL (cholesterol tốt) cao không trực tiếp giúp chống lại bệnh tim. Thông tin mới này có thể làm thay đổi suy nghĩ của chúng ta về cholesterol HDL (tốt), LDL (xấu) và sức khỏe tim mạch khi hầu hết đều cho rằng nếu cholesterol LDL cao sẽ làm tăng nguy cơ bệnh tim, còn HDL cao sẽ giúp có trái tim khỏe mạnh.
 
Nghiên cứu được tiến hành trên những người có tỷ lệ cholesterol HDL cao tuy nhiên bị mắc phải các triệu chứng bệnh tim (không có di truyền gen). Các nhà nghiên cứu tìm ra rằng nhóm có tỷ lệ HDL cao vẫn có tỷ lệ mắc bệnh tim đáng kể. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa HDL là cholesterol xấu. Những thói quen có lợi cho sức khỏe như luyện tập thể dục, thể thao và ăn uống đầy đủ chất xơ, chất béo không bão hòa đơn sẽ làm tăng HDL và làm giảm nguy cơ bệnh tim cho chúng ta.
 
Không nên ăn tôm (hoặc thức ăn hàm lượng cholesterol cao) nếu cholesterol cao
5 hiểu lầm thường gặp về cholesterol 2
Thông thường nếu bệnh nhân có cholesterol cao sẽ phải có chế độ ăn kiêng phù hợp và tránh các thực phẩm chứa nhiều cholesterol. Không hẳn là vậy. Chúng ta cần biết chất béo bão hòa có ảnh hưởng rõ rệt đến việc tăng hay giảm tỷ lệ cholesterol. Do vậy việc ăn kiêng các thực phẩm có hàm lượng cholesterol cao là không đúng khoa học. Bổ sung trứng, tôm và các thực phẩm chứa cholesterol trung bình khác sẽ là một chế độ ăn bổ dưỡng cho sức khỏe.
 
Khoai tây chiên chứa cholesterol
5 hiểu lầm thường gặp về cholesterol 3
Khoai tây chiên cùng với các loại hoa quả, rau và ngũ cốc nguyên hạt không chứa cholesterol. Tuy nhiên, để chắc chắn cần kiểm tra kỹ chất béo bão hòa trong bảng dinh dưỡng trên túi khoai tây vì đây là chất thường sản sinh ra nhiều cholesterol. Khoai tây miếng cũng là loại thực phẩm có hàm lượng calo cao.
 
Ngũ cốc yến mạch nướng - thực phẩm làm giảm cholesterol tốt nhất
5 hiểu lầm thường gặp về cholesterol 4
Thực tế là các loại ngũ cốc yến mạch này có một số chất xơ hòa tan giảm hàm lượng cholesterol, tuy nhiên bạn có thể hấp thụ hàm lượng cao hơn từ các loại thực phẩm như bột yến mạch, chuối, lê, đậu và cây họ cam quýt. Nếu bạn có ý định thưởng thức loại ngũ cốc này, cần đảm bảo đủ hàm lượng chất xơ vào buổi sáng bằng hoa quả.
 
Muốn giảm cholesterol, ăn nhiều đậu nành
5 hiểu lầm thường gặp về cholesterol 5
Nghiên cứu chỉ ra rằng protein đậu nành có ảnh hưởng không đáng kể. Lợi ích thực sự có thể liên quan đến việc sử dụng đậu nành như một loại thực phẩm thay thế cho các thực phẩm có hàm lượng chất béo bão hòa cao. Một số nghiên cứu chỉ ra rằng nếu muốn giảm cholesterol, không chỉ bổ sung thực phẩm giàu protein đậu nành mà cần đảm bảo chất xơ, sterol thực vật và các loại hạt như hạnh nhân.
 
Lưu ý: Cần giảm cholesterol LDL và tăng cholesterol HDL bằng cách: luyện tập thể dục thể thao, ăn chất béo không bão hòa đơn (như trong oliu, dầu canola và trái bơ) thay cho chất béo bão hòa và trans fat; bổ sung thêm chất xơ hòa tan.

Theo Dân trí
Chuyên mục: , ,

6 thg 12, 2012

Người cao tuổi phòng tránh đỉnh huyết áp lúc sáng sớm

Chia sẻ bài viết này:

Sự tăng vọt huyết áp ở người cao tuổi sau khi thức dậy dẫn đến tình trạng “đỉnh huyết áp lúc sáng sớm”, làm tăng 70% nguy cơ bị các biến chứng trầm trọng như tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim.

Người cao tuổi phòng tránh đỉnh huyết áp lúc sáng sớm


3501249da650cc.imgSự biến thiên của mức huyết áp 24 giờ

Huyết áp là một đại lượng thay đổi và luôn luôn tuân theo quy luật đặc trưng riêng của nó: Huyết áp hạ khi ngủ và tăng nhanh vào lúc thức dậy. Ở người bình thường, đỉnh huyết áp tâm thu hoặc tâm trương thường cao hơn đỉnh khi ngủ là 20mmHg và cao hơn đỉnh buổi chiều là 10mmHg. Trên nền biến thiên hàng ngày này, huyết áp còn chịu ảnh hưởng, có khi rất mạnh của hoạt động thể chất và những xúc cảm. Hơn nữa, ngoài sự biến thiên hàng ngày, còn có sự biến thiên hàng tuần (với mức huyết áp cao vào những ngày làm việc) và biến thiên theo mùa (với mức huyết áp cao vào mùa lạnh). Những thay đổi huyết áp này càng tăng nặng ở người bị tăng huyết áp.


Tăng huyết áp vào buổi sáng sớm nguy hiểm nhất

Theo một nghiên cứu mới thực hiện vào năm 2003 trên một quần thể người châu Á, cho thấy người cao tuổi có mức huyết áp tăng khi thức giấc là những người có nguy cơ cao bị TBMMN hoặc những biến chứng tim mạch khác. Sự gia tăng huyết áp có thể suy đoán được bằng cách đo huyết áp ở nhà và khi mức huyết áp buổi sáng > 140/90mmHg. Những người này nhất thiết phải được điều trị bằng loại thuốc hạ áp có tác dụng liên tục 24 giờ. Ðó là các thuốc thuộc nhóm kháng thụ thể Angiotesin II (như Micardis).
Ðiều cốt yếu là bảo vệ tim mạch lúc sáng sớm

Người cao tuổi bị tăng huyết áp vẫn có thể sống tốt và tích cực ở tuổi 70, 80 hay thậm chí 90. Ngoài việc khống chế huyết áp bằng loại thuốc tác dụng kéo dài, cần kiểm soát được cả thời điểm nguy cơ cao nhất vào lúc sáng sớm. Khi thức giấc, dù đêm hay ngày, người cao tuổi nên bình tĩnh nằm yên ở tư thế cũ khoảng 3-5 phút. Nếu tập thở nhịp nhàng thì càng tốt, sau đó hãy dậy. Như vậy, cơ thể sẽ thích nghi dần với nhu cầu tăng nhanh của hệ tuần hoàn; Tim, não không bị thiếu máu, thiếu oxygène, có thể tránh được biến cố cấp thời về tim mạch.

Theo kết luận gần đây của Tổ chức Y tế Thế giới: “TBMMN có khả năng dự phòng hiệu quả”. Do vậy, vấn đề dự phòng TBMMN đã trở thành mục tiêu chỉ đạo ở nhiều nước trên thế giới. Bên cạnh việc can thiệp làm giảm các yếu tố nguy cơ gây bệnh khác, việc phòng tránh “đỉnh huyết áp lúc sáng sớm” là biện pháp quan trọng trong kế hoạch dự phòng TBMMN.

BS. Bùi Nguyên Kiểm (BV. Xanh Pôn – Hà Nội)
Theo Báo Sức khoẻ & Đời sống

Chuyên mục: , , ,

25 thg 11, 2012

Tim mạch: Rung nhĩ

Chia sẻ bài viết này:

Rung nhĩ là một rối loạn nhịp tim thường gặp, đặc biệt là ở người cao tuổi. Khi chăm sóc sức khỏe tốt hơn, tuổi thọ kéo dài thì rung nhĩ ngày càng thường gặp. Điều đáng nói là nhiều người bị rung nhĩ nhưng không có biểu hiện gì, vẫn có thể sinh hoạt bình thường. Tuy nhiên, rung nhĩ là nguyên nhân hàng đầu (cùng với tăng huyết áp) gây ra 15% tổng số trường hợp nhồi máu não trên toàn thế giới hằng năm.

Những dấu hiệu nhận biết

Triệu chứng cơ năng của bệnh chủ yếu là cảm giác hồi hộp đánh trống ngực, đôi khi kèm theo hoa mắt chóng mặt, thấy tim đập nhanh và không đều. Rung nhĩ có thể gây cảm giác rất khó chịu, đặc biệt là về đêm làm người bệnh khó ngủ. Một số bệnh nhân có triệu chứng đau đầu, tức ngực, thậm chí khó thở khi lên cơn rung nhĩ. Triệu chứng chủ yếu là nghe thấy nhịp tim rối loạn hoàn toàn, không theo một nhịp điệu nào cả. Một số bệnh nhân tự bắt mạch mình thấy nhịp tim không đều, hay đôi khi có đoạn mạch yếu, chìm xuống.

Rung nhĩ - Coi chừng biến chứng! 1

Hoạt động điện và điện tâm đồ trong trường hợp bình thường (trái) và rung nhĩ (phải).

Rung nhĩ có thể xảy ra liên tục, cũng có thể xuất hiện thành từng cơn. Cơn rung nhĩ thường xuất hiện khi gắng sức, khi lo lắng, giận dữ hay khi có các stress tâm lý. Cơn rung nhĩ giai đoạn đầu thường tự xuất hiện và tự hết khi bệnh nhân nghỉ ngơi hay hết các stress. Càng về sau, cơn rung nhĩ có thể càng kéo dài, thậm chí vài ngày và thời gian xuất hiện ngày càng nhiều hơn.

Tuy nhiên, các triệu chứng cơ năng của rung nhĩ không hoàn toàn đặc hiệu, có thể rất thầm lặng. Một số bệnh nhân có thể nhầm lẫn triệu chứng của rung nhĩ với các bệnh khác, đặc biệt khi bệnh nhân đã có bệnh lý nội ngoại khoa từ trước. Chính đặc điểm này làm rung nhĩ đôi khi được chẩn đoán muộn, khi bệnh nhân đã có nhồi máu não hay các biến chứng tắc mạch khác.

Rung nhĩ do đâu?

Nguyên nhân của rung nhĩ chưa được biết rõ hoàn toàn, tuy nhiên có nhiều giả thiết được đưa ra về rối loạn hoạt động điện của tâm nhĩ hay của tĩnh mạch phổi. Cơn rung nhĩ khi xuất hiện thường ít có khả năng tự hết mà có xu hướng chuyển thành dạng rung nhĩ bền bỉ và dai dẳng hơn.

Các yếu tố nguy cơ của rung nhĩ là các bệnh van tim, bệnh mạch vành gây thiếu máu cơ tim, bệnh tăng huyết áp, đái tháo đường... Đặc biệt, những người uống rượu có tăng nguy cơ rung nhĩ. Nam giới có nguy cơ mắc rung nhĩ cao hơn so với nữ giới. Rung nhĩ cũng có tính di truyền, nếu bố hoặc mẹ mắc rung nhĩ, con cái sẽ có nguy cơ mắc rung nhĩ cao hơn 1,7 lần so với bình thường. Khi cả bố và mẹ cùng mắc rung nhĩ, con cái của họ sẽ có nguy cơ mắc rung nhĩ cao hơn gấp 5 lần so với bình thường. Hiện nay, trên thế giới đang có nhiều nghiên cứu hướng vào liệu pháp gen điều trị rung nhĩ, nhưng hiện tại chưa có phương pháp nào thực sự hữu hiệu.

Biến chứng của rung nhĩ là gây ra các cục máu đông ở trong buồng tim (tâm nhĩ trái). Khi các cục máu đông này bắn ra có thể làm tắc các mạch, gây nguy hiểm đến tính mạng. Nguy hiểm nhất là cục máu đông làm tắc mạch não gây tai biến mạch máu não có thể dẫn đến tử vong. Ngoài ra, có thể gây tắc mạch chân, tắc mạch ruột, gan, thận… có thể cần phải phẫu thuật hay can thiệp hút huyết khối.

Xử trí rung nhĩ bằng cách nào?

Điều trị rung nhĩ bao gồm việc chuyển nhịp, kiểm soát tần số tim và chống hình thành các cục máu đông trong buồng tim. Hiện nay thường sử dụng các thuốc chuyển nhịp hay chuyển nhịp bằng shock điện và thậm chí là phẫu thuật. Tuy nhiên, hiệu quả của các phương pháp này không cao, dễ tái phát, đôi khi rất tốn kém và phức tạp. Việc điều trị chuyển nhịp về lâu dài không mang lại lợi ích về mặt tiên lượng tử vong so với kiểm soát tần số tim cho bệnh nhân.

Điều trị kiểm soát tần số đáp ứng thất kết hợp với chống đông thường được các bác sĩ lựa chọn đầu tiên. Bệnh nhân có thể được điều trị kiểm soát tần số kết hợp với chống đông lâu dài, nếu không có triệu chứng khó chịu và bệnh nhân tuân thủ được dùng thuốc và theo dõi hiệu quả chống đông. Tuy nhiên, kiểm soát tần số thất với một số bệnh nhân có thể khó khăn, đặc biệt với người già do dùng các thuốc này đồng thời gây ra tác dụng nhịp chậm, thậm chí bệnh nhân có thể mệt mỏi, choáng ngất.

Dùng thuốc chống đông đường uống cho bệnh nhân rung nhĩ hiện nay vẫn là một thách thức. Các thuốc chống đông đường uống phổ biến ở nước ta hiện nay bị ảnh hưởng nhiều do chế độ ăn hay tương tác với các thuốc đang dùng. Mặt khác, nhiều bệnh nhân khó tuân thủ điều trị, dùng thuốc phải theo dõi hàng tháng dẫn tới chi phí tốn kém. Nếu uống thuốc chống đông mà không được theo dõi cẩn thận có thể có biến chứng do uống thuốc chưa đạt liều hoặc quá liều. Trường hợp nặng, bệnh nhân có thể mắc biến chứng chảy máu não, chảy máu dạ dày do quá liều thuốc chống đông, đôi khi dẫn tới tử vong.

Hiện nay, có một số biện pháp điều trị mới hứa hẹn sẽ giúp điều trị rung nhĩ hiệu quả hơn như: bít tiểu nhĩ bằng dụng cụ làm giảm nguy cơ hình thành cục máu đông trong buồng nhĩ trái, giảm các tai biến tắc mạch liên quan đến rung nhĩ. Hiện nay, bít tiểu nhĩ được chỉ định cho những bệnh nhân rung nhĩ không do bệnh van tim và không dung nạp với thuốc chống đông đường uống.

Phòng chống bệnh rung nhĩ bằng cách tập luyện thể dục đều đặn, bỏ thuốc lá, rượu, bia, kiêng cà phê và ăn nhạt.

BS. Trần Vũ Hoàng

(Trung tâm Tim mạch, Bệnh viện Đại học Y Hà Nội)

Chuyên mục: , , , ,

14 thg 11, 2012

Những nguy cơ sau tai biến mạch máu não

Chia sẻ bài viết này:

(SKDS) - Tai biến mạch máu não (TBMMN) là bệnh gây tử vong đứng thứ ba sau ung thư và bệnh tim mạch và là thủ phạm gây tàn phế hàng đầu trong các bệnh lý thần kinh. Sau khi đã thoát khỏi lưỡi hái của tử thần ở giai đoạn cấp, bệnh nhân lại sẽ phải đối mặt với rất nhiều nguy cơ khi “bán thân bất toại” trên giường bệnh.

Nguy cơ nhiễm khuẩn

Nhiễm trùng phổi: Nhiễm trùng phổi là nguy cơ đầu tiên khi bệnh nhân phải nằm liệt giường. Ở những bệnh nhân TBMMN thường có di chứng hôn mê, nuốt khó, sặc thức ăn, ho khạc kém nên dẫn tới ứ đọng đờm rãi, ứ đọng thức ăn ở hầu họng. Các vi khuẩn sinh sôi nảy nở nhanh chóng trong những chất ứ đọng này tràn xuống phổi gây viêm phổi. Khi nằm lâu, các cơ hô hấp (cơ liên sườn, cơ hoành…) cũng bị suy giảm chức năng, thông khí và tưới máu nhiều vùng của phổi bị giảm đi, chức năng của các vi nhung mao của lớp niêm mạc đường hô hấp bị giảm hoặc mất, vì vậy, các dịch tiết trong phế nang và tiểu phế quản không được đẩy ra ngoài dẫn đến suy giảm chức năng, xẹp và viêm phổi.

(SKDS) - Mở khí quản vĩnh viễn ở một số bệnh nhân TBMMN tuy có dễ dàng hơn trong việc chăm sóc bệnh nhân nhưng lại khiến cho không khí “đi tắt” không qua vùng mũi họng nên không được sưởi ấm, làm sạch và làm ẩm đầy đủ. Không khí khô, bẩn và lạnh đương nhiên sẽ làm phổi dễ bị viêm hơn. Viêm phổi ở bệnh nhân nằm lâu, suy kiệt nặng nhiều khi không rõ ràng với các triệu chứng như sốt không cao, ho khạc đờm vàng, đặc hoặc thở khò khè ứ đọng hoặc có biểu hiện của suy hô hấp.

Những nguy cơ sau tai biến mạch máu não 1

Bài tập vận động rất tốt trong dự phòng và điều trị các tổn thương cơ - xương - khớp sau TBMMN. Ảnh: TL

Viêm hệ sinh dục - tiết niệu: Hệ sinh dục - tiết niệu cũng là một “địa chỉ” thường xuyên bị viêm ở các bệnh nhân nằm liệt giường do TBMMN. Nguyên nhân là do đặt sông tiểu, chụp tiểu hoặc đóng bỉm quá lâu; tổn thương niệu đạo, bàng quang do đặt sông tiểu không đúng cách hoặc do sông tiểu quá to; chăm sóc, làm vệ sinh hệ sinh dục tiết niệu không đảm bảo; do rối loạn chức năng đại - tiểu tiện ở người già, người bị tổn thương thần kinh trung ương; ứ đọng nước tiểu ở bệnh nhân có u xơ tiền liệt tuyến, ứ đọng nước tiểu do nhu động của bàng quang, niệu đạo bị suy giảm; rối loạn hoặc mất chức năng cơ thắt bàng quang khiến nước tiểu rò rỉ liên tục ra ngoài. Tất cả những điều này là một điều kiện “không thể thuận lợi hơn” cho vi khuẩn xâm nhập và gây viêm hệ sinh dục - tiết niệu. Các vị trí bị viêm thường là niệu đạo, bàng quang, niệu quản và cao hơn là viêm thận - bể thận.

Viêm mũi xoang: Nhiễm khuẩn hệ thống mũi xoang cũng hay gặp ở bệnh nhân nằm lâu do TBMMN. Nguyên nhân do ứ đọng dịch tiết và thức ăn; do vệ sinh chăm sóc vùng này tương đối khó; do bệnh nhân có thể bị viêm xoang do đặt ống nội khí quản (trong quá trình hồi sức tích cực); do đặt và lưu sông dạ dày nuôi dưỡng đường mũi; do các tổn thương khi hút đờm áp lực quá âm hoặc xây sát khi đặt ống sông dạ dày, đặt ống nội khí quản đường mũi. Các biểu hiện của viêm nhiễm vùng mũi xoang là sốt, chảy dịch, chảy mủ qua miệng hoặc mũi. Viêm nhiễm khu vực này thường không rõ ràng và khó chẩn đoán.

Nhiễm trùng ngoài da: Nhiễm trùng ngoài da có liên quan nhiều đến loét mục do ở các khu vực bị tỳ đè nhiều như hai bả vai, vùng cùng cụt, hai gót chân… Các viêm nhiễm này có thể lan rộng hoặc sâu xuống dưới lớp cơ và phối hợp khiến cho các mảng loét mục ngày càng tiến triển nhanh hơn. Vi khuẩn hay gặp là tụ cầu vàng. Tưới máu kém ở khu vực bị loét do tỳ đè làm nhiễm trùng lan nhanh và rất khó điều trị.

Ngoài ra, một số các nhiễm trùng khác cũng có thể xảy ra ở bệnh nhân bị TBMMN do nằm lâu như nhiễm khuẩn răng miệng; viêm kết mạc; viêm tai giữa; viêm khớp, viêm bao hoạt dịch… nhưng với tỷ lệ ít hơn.

Loét mục

Loét mục là loại loét do nằm lâu, những chỗ cơ thể bị tì đè liên tục sẽ bị thiếu máu nuôi dưỡng. Do đó phần da thịt này sẽ bị hoại tử, ban đầu là vô khuẩn, sau đó sẽ có bội nhiễm thêm khiến cho ổ loét ngày càng lan rộng và sâu, có trường hợp loét trơ tới tận xương. Loét mục hay gặp tại những vị trí nơi cơ thể tiếp xúc liên tục với giường, đệm khi nằm như hai gót chân, vùng cùng cụt, bả vai, phần đỉnh chẩm. Ở những vị trí này, lớp cơ dưới da rất mỏng, mạch máu nghèo nàn nên rất dễ bị loét khi tì đè.

Thông thường, tổn thương loét xuất hiện sau khoảng 3 - 4 ngày nằm liên tục mà không được thay đổi tư thế, cá biệt có trường hợp chỉ sau 2 ngày nếu trời nóng, độ ẩm cao và ở người béo phì. Ban đầu loét chỉ biểu hiện bằng vùng da bị nề đỏ, rộp mụn nước, thâm tím do thiếu nuôi dưỡng sau đó vùng da tổn thương sẽ bị trợt và loét tiến triển sâu xuống lớp cơ. Lớp cơ bị hỏng có màu nhợt nhạt, cắt lọc không thấy chảy máu mà chỉ rỉ chất dịch viêm màu hồng nhạt, mùi tanh hôi. Nhiều khi loét sâu tận xương và thành hầm dưới da mặc dù nhìn lớp da bên ngoài vẫn tương đối bình thường. Dự phòng loét mục bằng cách lật trở, xoa bóp và cho bệnh nhân vận động hàng ngày. Nuôi dưỡng đảm bảo lượng calo cần thiết, cho thuốc chống đông máu như heparin phân tử lượng thấp cũng giúp mạch máu lưu thông, đảm bảo nuôi dưỡng khu vực bị loét mục.

Những nguy cơ sau tai biến mạch máu não 2

Bệnh cơ - xương - khớp

Các tổn thương của hệ cơ - xương - khớp do nằm lâu ở bệnh nhân TBMMN bao gồm teo cơ, cứng khớp do không vận động, liệt cứng (khiến cho bệnh nhân luôn nằm co quắp chân tay) và loãng xương. Đây là vấn đề gặp ở hầu hết các bệnh nhân TBMMN phải nằm liệt giường. Vì vậy, dự phòng teo cơ cứng khớp và các tổn thương khác phải được tiến hành ngay từ rất sớm, thậm chí có phương pháp cho tập vận động sớm ngay từ 48h sau khi bị TBMMN. Các bài tập vận động, các biện pháp vật lý trị liệu phối hợp với châm cứu, bấm huyệt có tác dụng rất tốt trong dự phòng và điều trị các tổn thương cơ - xương - khớp sau TBMMN. Một chế độ ăn đủ lượng canxi cũng góp phần chống loãng xương do nằm lâu.

Huyết khối tĩnh mạch chi dưới

Nguy cơ huyết khối tĩnh mạch (TM) chi dưới tăng rất cao ở người nằm bất động lâu. Khi huyết khối xuất hiện sẽ gây nhiễm trùng tại chỗ hoặc toàn thân, cục huyết khối di chuyển lên phía tim sẽ có thể là nguyên nhân làm tắc mạch phổi, suy hô hấp và tử vong. Ở người TBMMN phải nằm liệt giường có nhiều yếu tố thuận lợi cho việc hình thành huyết khối TM như hiện tượng cô đặc máu do mất nước; ứ trệ lưu thông của hệ TM; tăng hoạt hóa một số yếu tố đông máu, dãn TM chi dưới ở người già, nhiễm khuẩn…. Dự phòng huyết khối TM chi dưới gồm các biện pháp như tăng cường vận động, bù đủ nước cho bệnh nhân, dùng thuốc chống đông như heparin phân tử lượng thấp, mang tất chun nếu có suy TM chi dưới và đặt lưới TM chủ bụng để ngăn huyết khối di chuyển lên gây tắc mạch phổi.

Tóm lại, trước một bệnh nhân bị TBMMN phải nằm liệt giường, các biện pháp dự phòng các biến chứng phải được tiến hành từ rất sớm và đúng phương pháp. Nếu không, dù có cứu được bệnh nhân qua giai đoạn cấp thì bệnh nhân vẫn có thể tử vong sau đó vì các biến chứng như đã nêu ở trên hoặc “tồn tại” trên giường với chất lượng cuộc sống rất thấp.      

  Tiến sĩ, Bác sĩ Vũ Đức Định

Chuyên mục: , , , , , , , ,

23 thg 10, 2012

Rối loạn Lipid máu ở người cao tuổi có đái tháo đường

Chia sẻ bài viết này:

PGS.TS. Nguyễn Văn Trí

 

Lời mở đầu

Rối loạn lipid máu và đái tháo đường là những bệnh lý đã được chứng minh làm tăng tỷ lệ tử vong và biến cố tim mạch. Đã có nhiều nghiên cứu cho thấy lợi ích thật sự của việc kiểm soát tốt đường huyết và lipid máu trong việc giảm tử vong và biến cố tim mạch. Hiện nay, sự cải thiện trong các dịch vụ y tế và chăm sóc sức khỏe đã góp phần nâng cao tuổi thọ của con người. Tuy nhiên, tuổi cao và những lối sống không lành mạnh góp phần làm tăng tần suất mắc các bệnh tim mạch và đái tháo đường ở người cao tuổi. Trong đó, rối loạn lipid máu ở người cao tuổi có đái tháo đường là một vấn đề nội bật, cần được quan tâm. Bài viết này nhằm đánh giá mức độ quan trọng trong việc chẩn đoán và điều trị ở nhóm đối tượng đặc biệt này.

Tần suất đái tháo đường týp 2 ở người cao tuổi

Tần suất mới mắc đái tháo đường týp 2 tăng theo tuổi. Năm 1995, 18-20% người trên 65 tuổi tại Hoa Kỳ mắc bệnh đái tháo đường (con số này chưa tính đến những người có đái tháo đường týp 2 nhưng chưa được chẩn đoán).(1) Theo WHO năm 2000, số liệu được lấy từ một số nước trên thế giới, tần suất mắc bệnh đái tháo đường tăng theo tuổi. Trước 60 tuổi, tần suất mắc bệnh ở nam giới cao hơn nữ giới một ít, sau 60 tuổi, tần suất mắc bệnh ở nữ giới cao hơn ở nam giới.(2)

0202201201

Hình 1: Kết quả của WHO năm 2000 về tỷ lệ mắc đái tháo đường theo lớp tuổi.

Số năm tuổi trung bình dự kiến sống thêm ở người phụ nữ và nam 65 tuổi tại Hoa Kỳ là 19 và 15 năm. Ở tuổi 75, số dự đoán này là 12 và 9 năm. Tuy nhiên, ở những người cao tuổi có đái tháo đường, những con số này thấp hơn dự kiến.(3)

Các khuyến cáo hiện nay yêu cầu tầm soát việc tăng đường huyết ở tất cả người lớn trên 45 tuổi và lập lại mỗi 3 năm nhằm tránh bỏ sót chẩn đoán đái tháo đường.(4) Ngoài 20% dân số người cao tuổi có đái tháo đường thật sự, còn có 20-25% người cao tuổi có rối loạn dung nạp đường huyết đói. Đây là một tình trạng liên quan đến tăng 2 lần biến cố mạch máu lớn.(5)

Tần suất rối loạn lipid máu ở người cao tuổi, đặt biệt có kèm đái tháo đường

Rối loạn lipid máu thường gặp ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2 là tăng triglyceride và giảm HDL-c. Nồng độ LDL-c ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2 thường không khác biệt đáng kể so với nhóm không có đái tháo đường. Bệnh nhân đái tháo đường có thể tăng nồng độ non-HDL-c. Tuy nhiên, bệnh nhân đái tháo đường týp 2 vẫn có thể tăng quá trình xơ vữa động mạch mặc dù có mức LDL-c tăng không đáng kể.(6)

Sau 20 tuổi, nồng độ LDL-c tăng dần theo tuổi ở cả nam giới lẫn nữ giới nhưng nhanh hơn ở nam giới. Nồng độ LDL-c đạt đến mức bình nguyên ở nam giới ở độ tuổi 50-60 và ở nữ giới là 60-70. Nồng độ triglyceride tăng dần ở nam giới đạt đỉnh ở độ tuổi 40-50 và giảm nhẹ sau đó. Ở nữ giới, nồng độ triglyceride tăng dần trong suốt cuộc đời và tăng cao hơn ở nhóm có sử dụng estrogens.(7) Trước tuổi mãn kinh, phụ nữ thường có nồng độ cholesterol toàn phần thấp hơn người đàn ông ở cùng độ tuổi. Tuy nhiên, ở người phụ nữ sau tuổi mãn kinh, nồng độ LDL-c tăng và HDL-c giảm hơn người đàn ông ở cùng độ tuổi.

Tần suất rối loạn lipid máu ở người cao tuổi khác nhau ở những vùng được nghiên cứu. Năm 2000, một nghiên cứu tại Thái Lan trên 203 người > 60 tuổi ghi nhận 70% người có mức cholesterol toàn phần > 240 mg/dL và LDL-c > 160 mg/dL, 25% người có HDL-c < 35 mg/dL. Tỷ lệ LDL-c/HDL-c > 5 (một chỉ điểm cao của nguy cơ bệnh mạch vành) được ghi nhận ở 34%.(8)Năm 2010, một nghiên cứu tại Nigeria trên 176 người > 50 tuổi ghi nhận có 69,9% người được chẩn đoán rối loạn lipid máu (dựa trên ATP III).(9) Năm 2010, kết quả từ một nghiên cứu gộp với hơn 170000 người từ 26 nghiên cứu lớn trên thế giới, được đăng trên tạp chí uy tín The Lancet, ghi nhận 25% nam giới và 42% nữ giới > 65 tuổi có mức cholesterol toàn phần > 240 mg/dL.(10)

Tuổi, đái tháo đường, rối loạn lipid máu là 3 nguy cơ tim mạch

Thang điểm đánh giá nguy cơ Framingham (Framingham Risk Score) đầu tiên vào năm 1998 bao gồm tuổi, giới, LDL-c, HDL-c, huyết áp, đái tháo đường và hút thuốc lá. Tuổi càng cao, có rối loạn lipid máu, có đái tháo đường thì nguy cơ biến cố tim mạch càng cao. Năm 2002, phiên bản mới của thang điểm này bao gồm tuổi, giới, cholesterol toàn phần, HDL-c, hút thuốc lá, huyết áp và điều trị tăng huyết áp. Phiên bản mới đã loại bỏ đái tháo đường vì xem bệnh đái tháo đường tương đương bệnh mạch vành.(11)

Một nghiên cứu với hơn 1000 người > 75 tuổi được theo dõi trong 7 năm ghi nhận nồng độ LDL-c > 140 mg/dL làm tăng nguy cơ sa sút trí tuệ gấp 3 lần ở nhóm có nồng độ LDL-c < 100 mg/dL. Nghiên cứu cũng ghi nhận đái tháo đường thật sự là một nguy cơ biến cố mạch máu não và sa sút trí tuệ ở người cao tuổi.(12) Ở nhóm đối tượng > 70 tuổi và thậm chí ở nhóm đối tượng > 80 tuổi, nồng độ HDL-c < 35 mg/dL là một yếu tố nguy cơ cho tử vong tim mạch và biến cố mạch vành ở cả nam lẫn nữ. Ngược lại, nồng độ HDL-c cao liên quan đến nguy cơ thấp biến cố thiếu máu cục bộ não.(13)

Trong những nghiên cứu trên bệnh nhân cao tuổi có rối loạn lipid máu, đái tháo đường được đề cập trong dân số nghiên cứu nhưng dân số đái tháo đường không được phân tích riêng. Do đó, việc hiện diện đái tháo đường có làm thay đổi mối quan hệ giữa LDL toàn phần, LDL-c hoặc HDL-c và biến cố tim mạch ở người cao tuổi hay không? Đây vẫn là một câu hỏi mở.

Chúng ta cần kiểm soát rối loạn lipid máu ở người cao tuổi

Từ năm 2004, các khuyến cáo và hướng dẫn đã công bố đều nhấn mạnh sự cần thiết phải giảm LDL-c tích cực. Điều này cho thấy LDL-c chính là mục tiêu điều trị nền tảng. Phân tích gộp do nhóm CTT (Cholesterol Treatment Trialists) thực hiện năm 2005 đánh giá hơn 90000 người trong 14 thử nghiệm về statin đã chứng minh rằng điều trị bằng statin giúp làm giảm các biến cố tim mạch.(17)

Bảng 1: Khuyến cáo mục tiêu điều trị dựa vào LDL-c của ECS 2011.(22)

0202201202

LDL-c được tính theo công thức Friedewald:

LDL-c = Cholesterol toàn phần - HDL-c - Triglyceride/2,2 (tính theo mmol/L)

LDL-c = Cholesterol toàn phần - HDL-c - Triglyceride/5 (tính theo mg/dL)

Không áp dụng công thức này khi Triglyceride > 4,5 mmol/L (> 400 mg/dL). Khi đó cần đo LDL-c trực tiếp hoặc dựa vào trị số non-HDL-c (= VLDL-c + IDL-c + LDL-c = Triglyceride - HDL-c). Non-HDL-c có thể giúp đánh giá nguy cơ tốt hơn khi so sánh với LDL-c, đặt biệt là ở những bệnh nhân có tăng Triglyceride máu, đái tháo đường, hội chứng chuyển hóa và bệnh thận mạn.

Mục tiêu điều trị dựa vào non-HDL cao hơn 0,8 mmol/L (30 mg/dL) so với dựa vào LDL-c. Như vậy, ở nhóm đối tượng nguy cơ rất cao, mục tiêu điều trị là đạt non-HDL-c < 2,6 mmol/L (< 100 mg/dL) (Nhóm IIa, mức độ bằng chứng B).(22)

Những nghiên cứu phòng ngừa nguyên phát ở người cao tuổi đến 73 tuổi và phòng ngừa thứ phát ở người cao tuổi đến 75 tuổi đã chứng minh rằng việc giảm mức cholesterol máu có thể giảm đáng kể các biến cố tim mạch ở người cao tuổi có hoặc không có đái tháo đường.(14, 15, 16)

Không có nhiều các dữ kiện trong việc điều trị giảm lipid máu ở người cao tuổi. Bản thân khuyến cáo từ ATP III trong điều trị rối loạn lipid máu ở người cao tuổi cũng dựa trên nền tảng ở người trẻ. Mặc dù vậy, vẫn có một số nghiên cứu cung cấp những thông tin giá trị trong điều trị rối loạn lipid ở người cao tuổi như nghiên cứu Heart Protection Study (HPS),(18) nghiên cứu Anglo-Scandinavian Cardiac Outcomes Trial - Lipid Lowering Arm (ASCOT-LLA)(19) và nghiên cứu Prospective Study of Pravastatin in the Elderly at Risk (PROSPER).(20)

Nghiên cứu HPS được thực hiện tại Anh với 20536 bệnh nhân (tuổi 40-80) có bệnh mạch vành, bệnh tắc nghẽn động mạch khác hoặc đái tháo đường. Bệnh nhân được chia 2 nhóm ngẫu nhiên dùng simvastatin 40 mg/ngày hoặc giả dược. Thời gian theo dõi là 5 năm. Kết quả ghi nhận tần suất tử vong chung ở nhóm dùng statin là 12,9%, thấp hơn nhóm dùng giả dược là 14,7% (p= 0,0003). Điều đáng quan tâm là lợi ích mang lại từ việc dùng statin tương đương nhau ở nhóm dưới hoặc trên 70 tuổi.(18)

0202201203

Hình 2: Hiệu quả của simvastatin trong ngăn ngừa biến cố mạch máu lớn được ghi nhận cả ở nhóm bệnh nhân > 70 tuổi.(18)

Nghiên cứu ASCOT-LLA được tiến hành nhằm đánh giá lợi ích của atorvastatin trong phòng ngừa nguyên phát bệnh mạch vành ở những bệnh nhân tăng huyết áp. 19342 bệnh nhân (tuổi 40-79) ngẫu nhiên được dùng atorvastatin 10 mg/ngày hoặc giả dược. Do những lợi ích mang lại từ atorvastatin, nghiên cứu đã dừng sau 3,3 năm. Tại thời điểm  đó, nhóm dùng atorvastatin có 100 biến cố tim mạch so với 154 biến cố tim mạch ở nhóm dùng giả dược (p= 0,0005). Lợi ích mang lại từ atorvastatin ghi nhận ở cả nhóm bệnh nhân > 60 tuổi.(19)

0202201204

Hình 3: Atorvastatin ngăn biến cố nhồi máu cơ tim không tử vong và bệnh mạch vành có tử vong được ghi nhận cả ở nhóm bệnh nhân > 60 tuổi.(19)

Nghiên cứu PROSPER với mục tiêu đánh giá hiệu quả của pravastatin trong giảm tử vong và bệnh tật do bệnh mạch vành và bệnh mạch máu não ở người cao tuổi. Nghiên cứu được tiến hành với 5804 bệnh nhân tuổi từ 70-82 với tiền sử hoặc yếu tố nguy cơ bệnh mạch máu. Các bệnh nhân được chia làm 2 nhóm ngẫu nhiên, dùng  pravastatin 40 mg/ngày hoặc giả dược. Thời gian theo dõi trung bình là 3,2 năm. Kết quả ghi nhận pravastatin thật sự mang lại lợi ích trong giảm tử vong và bệnh tật do bệnh mạch vành và bệnh mạch máu não ở người cao tuổi.

0202201205

Hình 4: Đối với người cao tuổi, pravastatin giảm tử vong do bệnh mạch vành, nhồi máu cơ tim không tử vong, đột quỵ so với giả dược.(20)

Mới nhất là nghiên cứu JUPITER được công bố năm 2008. Nghiên cứu đánh giá vai trò của rosuvastatin  trong ngăn ngừa biến cố mạch máu ở người có tăng Hs-CRP (high-sensitivity C-reactive protein). Đặc điểm của nghiên cứu là nam > 50 tuổi và nữ > 60 tuổi, không có bệnh mạch vành, không đái tháo đường, mức LDL-c < 130 mg/dL và Hs-CRP > 2 mg/L. 17802 người được chia làm 2 nhóm ngẫu nhiên dùng rosuvastatin 20 mg/ngày hoặc giả dược. Tiêu chí chính: nhồi máu cơ tim, đột quỵ, thủ thuật tái tưới máu mạch vành, tử vong vì bệnh tim mạch. Do những lợi ích mang lại từ rosuvastatin, nghiên cứu đã dừng sau trung bình 1,9 năm (lâu nhất là 5 năm). Rosuvastatin giảm LDL-c 50%, Hs-CRP 37% và giảm các biến cố của tiêu chí chính đến 44%.(21)

0202201206

Hình 5: Rosuvastatin làm giảm nhồi máu cơ tim, đột quỵ, thủ thuật tái tưới máu mạch vành, tử vong vì bệnh tim mạch so với giả dược ở những bệnh nhân không có rối loạn lipid máu, không có đái tháo đường và có Hs-CRP tăng.(21)

0202201207

Hình 6: Rosuvastatin giảm biến cố của tiêu chí chính ở cả người > 65 tuổi.(21)

Bảng 2: Khuyến cáo điều trị rối loạn lipid máu ở người cao tuổi theo ESC 2011.(22)

0202201208

Điều trị rối loạn lipid máu ở người cao tuổi có đái tháo đường

Cho đến nay không có nhiều nghiên cứu về điều trị rối loạn lipid máu ở người cao tuổi có đái tháo đường. Trong nghiên cứu 4S, simvastatin giảm nguy cơ biến cố tim mạch 37-55% ở 202 đối tượng cao tuổi có rối loạn lipid máu và đái tháo đường.(23) Một phân tích khác so sánh giữa 3 nhóm người cao tuổi có rối loạn lipid máu với nhóm 1 có đường huyết bình thường (< 110mg/dL, n= 3237), nhóm 2 có rối loạn dung nạp đường huyết đói (110-126 mg/dL, n= 281) và nhóm 3 có đường huyết tăng (>126 mg/dL) hoặc đã được chẩn đoán đái tháo đường (n= 202). Hiệu quả được ghi nhận ở cả 3 nhóm khi được dùng simvastatin. Lợi ích liên quan đến tình trạng đường huyết. Để giảm 1 biến cố, cần điều trị 12 bệnh nhân có đường huyết bình thường, 8 bệnh nhân có rối loạn đường huyết đói và 7 bệnh nhân đái tháo đường.(24)

Nghiên cứu CARDS, đánh giá trên những bệnh nhân đến 75 tuổi, khẳng định biến cố tim mạch xảy ra nhiều hơn ở bệnh nhân đái tháo đường, không phụ thuộc độ tuổi. Sau 5 năm nghiên cứu, 20% nhồi máu cơ tim và 8% đột quỵ xảy ra ở  bệnh nhân đái tháo đường, cao hơn ở bệnh nhân không có đái tháo đường (12% và 3%) (p=0,001). Pravastatin có hiệu quả tương đương giảm mức lipid máu ở bệnh nhân có và không có đái tháo đường. Thuốc làm giảm 25% nguy cơ biến cố mạch vành ở cả 2 nhóm có và không có đái tháo đường với độ giảm nguy cơ tuyệt đối ở nhóm đái tháo đường (-8,1%) nhiều hơn so với nhóm không có đái tháo đường (-5,2%).(25)

Kết luận

Phù hợp với sự lão hóa trong dân số. Việc nghiên cứu điều trị rối loạn lipid máu trên đối tượng người cao tuổi ngày càng được quan tâm. Điều trị với statin được khuyến cáo đối với bệnh nhân cao tuổi có bệnh tim mạch với việc dùng thuốc như đối với bệnh nhân trẻ. Tuy nhiên, do người cao tuổi có các bệnh lý đi kèm và thay đổi dược động học của thuốc, nên khởi đầu thuốc điều trị rối loạn lipid máu ở liều thấp và tăng dần cho đến khi đạt mục tiêu điều trị như đối với bệnh nhân trẻ. Trên đối tượng cao tuổi có rối loạn lipid máu và đái tháo đường, những nghiên cứu bước đầu cho thấy, việc kiểm soát lipid máu có mang lại những lợi ích nhất định.

Nguồn tin: http://timmachhoc.vn/

Chuyên mục: , , , ,

21 thg 10, 2012

Điều trị đạt LDL-C mục tiêu: Statin liều cao hay phối hợp thuốc?

Chia sẻ bài viết này:

BS. Trần Lê Uyên Phương

PGS. TS. Võ Thành Nhân

I. Cholesterol và nguy cơ tim mạch

Từ sau thế chiến thứ hai, hai nghiên cứu tiên phong là Framingham và Seven Countries đã xác định được mối liên hệ giữa bệnh tim mạch và cholesterol máu. Năm 1982, nghiên cứu MRFIT cho thấy việc cải thiện các yếu tố nguy cơ tim mạch, đặc biệt là cải thiện - tăng cholesterol máu bằng chế độ ăn kiêng làm giảm được tỉ lệ phát sinh biến cố tim mạch.

Năm 1987 đánh dấu bước phát triển mới của việc điều trị tăng cholesterol máu với sự ra đời của statin đầu tiên: lovastatin. Nhưng mãi đến năm 1994, nghiên cứu 4S là nghiên cứu phòng ngừa thứ phát đầu tiên chính thức đưa ra kết luận tin cậy về việc điều trị statin (simvastatin) không những làm giảm nguy cơ biến cố tim mạch chính mà còn giảm tỉ lệ tử vong do nguyên nhân tim mạch trên những bệnh nhân có bệnh mạch vành với cholesterol máu cao. Một năm sau, nghiên cứu WOSCOP đã củng cố thêm kết quả của nghiên cứu 4S khi chứng minh được statin làm giảm rõ rệt biến cố tim mạch và tử vong do bệnh mạch vành trên những bệnh nhân có tăng cholesterol máu nhưng chưa có bệnh mạch vành. Sự xuất hiện của statin đã giúp cho việc điều trị tăng cholesterol máu tiến thêm một bước dài khi cho thấy việc điều trị cải thiện được kết cục lâm sàng. Như vậy, 4S và WOSCOP là hai nghiên cứu bản lề chứng minh hiệu quả của statin trong trong cả phòng ngừa tiên phát và thứ phát, tạo tiền đề cho nhiều nghiên cứu khác xuất hiện sau này cũng như đưa ra được những bằng chứng thuyết phục hơn. Cụ thể là từ các nghiên cứu 4S, WOSCOP, CARE, LIPID và AFCAP/TexCAP, khuyến cáo NCEP ATPIII về việc điều trị tăng cholesterol máu ra đời vào năm 2001. Việc kiểm soát tích cực LDL-C chính là yếu tố quyết định giúp giảm các biến cố tim mạch. Đây cũng chính là giá trị lâm sàng lớn nhất đã được khẳng định trong khuyến cáo này. Vì thế, các mục tiêu điều trị LDL-C cũng đã được thay đổi một cách chặt chẽ hơn, cụ thể và rõ ràng hơn nhằm dễ ứng dụng vào thực hành lâm sàng hơn. NCEP ATP III đóng vai trò như kim chỉ nam cho việc điều trị rối loạn lipid máu không chỉ tại Hoa Kỳ mà gần như ở rất nhiều nước trên thế giới. Nhiều nghiên cứu mới được công bố thêm sau này tạo cơ sở để cải thiện khuyến cáo, như kết quả tích cực của nghiên cứu TNT tiến hành trên đối tượng nguy cơ tim mạch rất cao làm Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ đưa mục tiêu điều trị LDL-C từ <100mg/dl xuống còn <70mg/dl vào năm 2004 [1],[2].

Để đạt được mục tiêu LDL-C, statin là lựa chọn đầu tay theo khuyến cáo NCEP ATP III [3]. Hiệu quả của statin khá toàn diện trên toàn bộ các thông số lipid máu, đặc biệt nổi trội ở khả năng giảm mạnh LDL-C, tăng nhẹ HDL với tính an toàn và độ dung nạp tốt hơn so với các nhóm thuốc điều trị rối loạn lipid máu khác. Ở liều khởi đầu, statin đã giúp kiểm soát toàn diện các thông số lipid máu liên quan đến xơ vữa động mạch. Cụ thể với simvastatin 10mg, LDL-C giảm 28,3%, HDL-C tăng 5,3% và TG giảm 11,9%. Atorvastatin 10mg giảm 36,8% LDL-C, HDL-C tăng 5,7% và TG giảm 20%. Rosuvastatin 10mg càng hiệu quả hơn khi làm giảm 45,8% LDL-C, tăng 7,7% HDL-C và giảm 19,8% TG [4]. Hiệu quả giảm LDL-C của statin tăng lên khi tăng liều điều trị và tuân theo quy luật 6%, tức là khi tăng liều statin lên gấp đôi thì hiệu quả giảm LDL-C chỉ tăng thêm 6%. Tăng gấp 8 lần liều (từ 10 lên 80mg) chỉ tăng được thêm 18% hiệu quả giảm LDL-C đi đôi với giảm độ an toàn của thuốc do liều dùng quá cao [5], [6]. Chính vì vậy mà hiệu quả giảm LDL-C của một statin phần lớn nằm ở ngay liều khởi đầu. Liều khởi đầu của các statin thế hệ trước như lovastatin, pravastatin có hiệu quả giảm LDL-C xấp xỉ 30%. Trong khi đó, các statin thế hệ sau như atorvastatin và rosuvastatin lại có hiệu quả vượt trội hơn. Rosuvastatin hiện được chứng minh là statin có hiệu quả giảm LDL-C mạnh nhất đạt 46% chỉ ở liều khởi đầu 10mg và 52% khi tăng liều gấp đôi [7].

Mối liên quan trực tiếp giữa LDL-C và nguy cơ tim mạch không chỉ được chứng minh trong các nghiên cứu lâm sàng mà còn trong cả thực tế qua các nghiên cứu dịch tễ học. Nghiên cứu Framingham cho thấy cứ tăng 1% LDL-C sẽ làm tăng khoảng 2% nguy cơ bệnh mạch vành trong vòng 6 năm [8]. Kết quả của một phân tích tổng hợp 14 thử nghiệm ngẫu nhiên của statin đã chứng tỏ rằng có mối liên quan tuyến tính giữa giảm LDL-C và giảm tần suất bệnh mạch vành cũng như các biến cố tim mạch chính. Do tổng hợp 14 thử nghiệm lâm sàng với số lượng bệnh nhân lên đến hơn 90 000 nên có thể phân tích được hiệu quả giảm LDL-C trên nhiều phân nhóm như phụ nữ, người lớn tuổi, đái tháo đường, tiền căn có bệnh mạch vành hoặc đột quỵ. Kết quả cho thấy cứ mỗi 10mg /dL LDL-C giảm được sẽ làm giảm tương ứng 5,4% nguy cơ tim mạch trong 5 năm. Tỉ lệ giảm biến cố tim mạch chính khoảng 21% cho mỗi 1 mmol LDL-C giảm được, và kết quả này cũng ghi nhận tương tự trên các phân nhóm.

Hiệu quả giảm biến cố tim mạch đã được chứng minh qua hàng loạt các nghiên cứu phòng ngừa thứ phát cũng như tiên phát mà khởi đầu chính là các nghiên cứu 4S và WOSCOP. Mục tiêu điều trị giảm 30-40% LDL-C so với ban đầu được xây dựng trên kết quả từ các nghiên cứu bản lề được tham khảo để cập nhật trong ATP III năm 2001. Từ các nghiên cứu phòng ngừa thứ phát như 4S, CARE, LIPID cho đến các nghiên cứu phòng ngừa tiên phát như WOSCAP và AFCAP/TexCAP, kết luận chung là biến cố mạch vành giảm khoảng 25% khi LDL-C giảm được tối thiểu 25% [9]. Hiệu quả phòng ngừa biến cố tim mạch của statin đã được chứng minh khá rõ trên những phân nhóm theo giới, tuổi, có tăng huyết áp hay có đái tháo đường hay không (4S, HPS) [10], [11]. Không những vậy, statin còn phòng ngừa được nhồi máu cơ tim tái phát trên những bệnh nhân hội chứng vành cấp trong nghiên cứu PROVE-IT TIMI 22 [12]. Tuy nhiên, cũng qua các nghiên cứu đó, chúng ta thấy rằng giảm LDL-C cũng chỉ mới làm giảm được khoảng 35% nguy cơ tim mạch, vẫn còn đến 65% nguy cơ tim mạch chưa được giải quyết triệt để, còn gọi là các nguy cơ tồn dư [13].

II.Thực tế tình hình điều trị rối loạn lipid máu

Các thử nghiệm lâm sàng đã chứng tỏ lợi ích của việc kiểm soát cholesterol để giảm nguy cơ tim mạch và đã có nhiều khuyến cáo hướng dẫn cụ thể điều trị tăng cholesterol máu dựa vào các yếu tố nguy cơ. Tuy nhiên, luôn có một khoảng cách giữa hướng dẫn điều trị và thực tế lâm sàng.

Nghiên cứu EUROASPIRE II tiến hành tại 15 quốc gia Châu Âu công bố năm 2001, thăm dò về tình hình điều trị trong vòng 6 tháng trước đó của 5000 bệnh nhân có bệnh mạch vành. 39% bệnh nhân không được điều trị thuốc và chỉ có 51% trong số được điều trị đạt mục tiêu theo khuyến cáo của hiệp hội tim mạch châu Âu (cholesterol toàn phần < 5mmol/l) [14]. Với nghiên cứu GRACE, kết quả còn thất vọng hơn khi cho thấy có đến 54% bệnh nhân hội chứng vành cấp không được điều trị thuốc hạ lipid máu [15].

Tuy nhiên, việc điều trị tỏ ra khả quan hơn theo thời gian. Nghiên cứu LTAP-2 cho thấy tỉ lệ bệnh nhân nguy cơ cao đạt mục tiêu điều trị là 67% nhưng vẫn còn 33% bệnh nhân chưa đạt mục tiêu điều trị [16]. Nghiên cứu REALITY tại châu Âu cho thấy chỉ có 40,5% bệnh nhân đạt LDL-C mục tiêu, và tỉ lệ này thay đổi theo từng quốc gia, thấp nhất là tại Ý, chiếm 14% và cao nhất là tại Pháp, chiếm 55% [17].

Tại châu Á, có hai nghiên cứu lớn khảo sát thực tế tình hình điều trị rối loạn lipid máu. Nghiên cứu REALITY châu Á dựa trên hồ sơ bệnh án của 2622 bệnh nhân khởi đầu statin đơn trị tại 436 trung tâm tại 6 quốc gia: Trung Quốc, Malaysia, Singapore, Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan trong khoảng thời gian 2002-2003. Sau 12 tháng theo dõi, chỉ có 48% bệnh nhân đạt mục tiêu LDL-C, tỉ lệ này dao động từ 24% tại Đài Loan đến 62% tại Singapore. Trong nhóm bệnh nhân nguy cơ cao, có đến 62% không đạt được LDL-C mục tiêu. Số bệnh nhân được chỉnh liều statin chỉ chiếm 9% và trong đó có đến 56% bệnh nhân vẫn không đạt mục tiêu điều trị [18]. Nghiên cứu có tầm lớn hơn là CEPHEUS tiến hành trên 8064 bệnh nhân tại 8 quốc gia châu Á Thái Bình Dương: Hồng Kông, Thái Lan, Hàn Quốc, Đài Loan, Philipines, Malaysia, Indonesia và Việt Nam. Chỉ có 49,1% bệnh nhân đạt được mục tiêu điều trị LDL-C, tỉ lệ này dao động từ 31,3% tại Indonesia, 40,1% tại Việt Nam và cao nhất là 82,9% tại Hong Kong (biểu đồ 1). Bệnh nhân có nguy cơ tim mạch càng cao với mục tiêu LDL-C càng thấp thì tỉ lệ đạt mục tiêu điều trị càng giảm: chỉ có 34,9% bệnh nhân đạt mục tiêu LDL-C <70mg/dl, 55,4% bệnh nhân đạt mục tiêu LDL-C <100mg/dl, 75,4% bệnh nhân đạt mục tiêu LDL-C <130mg/dl, 76% bệnh nhân đạt mục tiêu LDL-C <160mg/dl. Tuy nhiên, có đến 64,1% bệnh nhân vẫn giữ nguyên liều điều trị ban đầu [19].

849-1

Biểu đồ 1: Phần trăm bệnh nhân đạt mục tiêu LDL-C theo khuyến cáo của NCEP ATP III cập nhật 2004 trong nghiên cứu CEPHEUS

III. Statin liều cao hay phối hợp thuốc

Khi tăng gấp đôi liều statin chỉ giảm được thêm 6% LDL-C là một trong những giới hạn của statin, vì có đến 55% cholesterol được hấp thu ở ruột. Vì thế, dùng statin phối hợp với thuốc làm giảm hấp thu cholesterol ở ruột như Ezetimibe là một trong những giải pháp nhiều tiềm năng. Nghiên cứu của Davidson và cộng sự tiến hành trên bệnh nhân tăng cholesterol nguyên phát (LDL-C trong khoảng từ 145 đến 250mg/dl) cho thấy so với simvastatin đơn trị, ezetimibe phối hợp với simvastatin làm giảm thêm 13,8% LDL-C, tăng 2,4% HDL-C và giảm 7,5% TG [20].

Nghiên cứu SHARP (Study of Heart and Renal Protection) là nghiên cứu lớn đầu tiên chứng minh lợi ích của phối hợp simvastatin-ezetimibe trong phòng ngừa các biến cố tim mạch. Có 9270 bệnh nhân mang bệnh thận mạn được đưa vào nghiên cứu, trong đó 3023 bệnh nhân đang chạy thận nhân tạo, tất cả đều có tiền sử nhồi máu cơ tim hoặc đã tái thông mạch vành. Bệnh nhân được phân nhóm ngẫu nhiên sử dụng simvastatin 20mg phối hợp với ezetimibe 10mg (4650) hoặc placebo (4620). Tiêu chí đánh giá là biến cố tim mạch đầu tiên (nhồi máu cơ tim, tử vong do mạch vành, đột quỵ không do xuất huyết, thủ thuật tái thông động mạch). Sau thời gian theo dõi trung bình là 4,9 năm, nhóm bệnh nhân được phối hợp điều trị bằng simvastatin và ezetimibe giảm được 17% các biến cố tim mạch chính so với placebo (p=0,0021). Phối hợp simvastatin-ezetimibe cũng làm giảm nguy cơ tương đối đột quỵ không do xuất huyết (RR=0,75; p=0,01) và các thủ thuật tái thông động mạch (RR=0,19; p = 0,0036), tuy nhiên không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về nhồi máu cơ tim và tử vong do mạch vành (RR=0,92; p=0,37) [21]. Ballantyne và cộng sự tiến hành nghiên cứu hiệu quả của phối hợp thuốc atorvastatin-ezetimibe trên 628 bệnh nhân tăng cholesterol máu nguyên phát. Đây là một nghiên cứu tiến cứu, các bệnh nhân có LDL-C từ 145 đến 250mg/dl và TG ≤350mg/dl được chọn lựa ngẫu nhiên để điều trị mù đôi trong vòng 12 tuần với ezetimibe 10mg, atorvastatin 10mg, 20mg, 40mg, 80mg, phối hợp ezetimibe 10mg với atorvastatin 10mg, 20mg, 40mg, 80mg hoặc placebo. Tiêu chí đánh giá là phần trăm giảm LDL-C so sánh giữa điều trị phối hợp ezetimibe-atorvastatin với atorvastatin. Kết quả cho thấy phối hợp ezetimibe-atorvastatin làm giảm từ 53 đến 61% LDL-C, tăng theo liều atorvastatin (biểu đồ 2), hay nói cách khác phối hợp ezetimibe-atorvastatin làm giảm thêm 12,1% LDL-C so với atorvastatin đơn thuần (biểu đồ 3). Đặc biệt là phối hợp 10mg ezetimibe và 10mg atorvastatin có hiệu quả giảm LDL-C tương đương với 80mg atorvastatin đơn thuần (53% vs 54%). Ngoài ra, phối hợp ezetimibe-atorvastatin còn làm tăng thêm 3% HDL-C, giảm thêm 8% TG và giảm thêm 10% hs-CRP so với atorvastatin đơn trị liệu [22].

849-2

Biểu đồ 2: Hiệu quả giảm LDL-C của phối hợp ezetimibe-atorvastatin ở từng liều atorvastatin so với atorvastatin đơn trị liệu.

849-3

Biểu đồ 3: Kết quả gộp về hiệu quả giảm LDL-C của phối hợp ezetimibe-atorvastatin so với atorvastatin đơn trị liệu.

Nghiên cứu ACTE nhằm so sánh hiệu quả hạ LDL-C của ezetimibe thêm vào liều rosuvastatin cố định (5 hoặc 10mg/ngày) so với tăng gấp đôi liều rosuvastatin (từ 5-10mg/ngày lên 10-20mg/ngày). Đây là một nghiên cứu ngẫu nhiên, mù đôi, đa trung tâm được tiến hành tại 10 quốc gia: Hoa Kỳ, Puerto Rico, Canada, Hungary, Đan Mạch, Peru, Ba Lan, Columbia, Phần Lan và Croatia. Có tổng cộng 440 bệnh nhân tăng cholesterol máu có nguy cơ tim mạch từ trung bình đến cao và chưa đạt mục tiêu LDL-C theo khuyến cáo NCEP ATP III. Các bệnh nhân này hoặc chưa được điều trị bằng statin hoặc ezetimibe, hoặc đang điều trị rosuvastatin 5-10mg/ngày hay statin khác có hiệu lực tương đương hoặc kém hơn trong vòng từ 6 tuần trở lên trước khi được sàng lọc. Các bệnh nhân được phân thành 2 nhóm điều trị bằng rosuvastatin 5 hoặc 10 mg/ngày trong vòng 4 tuần tùy theo mục tiêu LDL-C cần đạt được theo khuyến cáo NCEP ATP III. Sau đó bệnh nhân trong mỗi nhóm được chia ngẫu nhiên để thêm ezetimibe 10mg hoặc tăng gấp đôi liều rosuvastatin trong vòng 6 tuần. Kết quả cho thấy khi thêm ezetimibe vào đều trị nền bằng rosuvastatin 5 đến 10mg/ngày làm giảm thêm LDL-C 21%, trong khi đó khi tăng gấp đôi liều rosuvastatin chỉ làm LDL-C giảm thêm 5,7% (p<0,001). Và trong từng phân nhóm, ezetimibe-rosuvastatin 5mg/ngày làm giảm hơn 12,3% so với rosuvastatin 10mg (p<0,001), ezetimibe-rosuvastatin 10mg/ngày làm giảm hơn 17,5% so với rosuvastatin 20mg (p<0,001). So với phương thức tăng gấp đôi liều rosuvastatin thì điều trị ezetimibe thêm vào rosuvastatin giúp đạt mục tiêu điều trị LDL-C hơn (59,4% so với 30,9%, p<0,001). Bệnh nhân nguy cơ cao với mục tiêu LDL-C <70mg/dl đạt được mục tiêu điều trị cao hơn (62,8%) bằng phương thức ezetimibe thêm vào rosuvastatin so với tăng gấp đôi liều rosuvastatin (30,6%, p<0,001) (biểu đồ 4) [23].

849-4

Biểu đồ 4: Đạt mục tiêu LDL-C định trước sau 6 tuần điều trị.
Tất cả tầng: ezetimibe 10 mg thêm vào rosuvastatin 5-10mg/ngày.
Tầng I: bệnh nhân điều trị nền bằng rosuvastatin 5mg sau đó được tăng gấp đôi liều hoặc thêm ezetimibe 10mg, mục tiêu LDL-C <100mg/dl.
Tầng II: bệnh nhân điều trị nền bằng rosuvastatin 10mg sau đó được tăng gấp đôi liều hoặc thêm ezetimibe 10mg, mục tiêu LDL-C < 70mg/dl.

Như vậy, các nghiên cứu trên đều chứng minh rằng ezetimibe 10mg phối hợp với statin dù là simvastatin, atorvastatin hay rosuvastatin cũng làm giảm LDL-C mạnh hơn đáng kể so với điều trị bằng statin đơn thuần, ngay cả ở liều cao hoặc khi tăng liều statin. Đây là một phương thức giúp nhiều bệnh nhân đạt mục tiêu điều trị hơn theo khuyến cáo NCEP ATP III, đặc biệt là trên đối tượng bệnh nhân nguy cơ cao.

Chuyên mục: , , ,

12 thg 6, 2012

HƯỚNG DẪN CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ TĂNG HUYẾT ÁP

Chia sẻ bài viết này:

4. ĐIỀU TRỊ
4.1. Nguyên tắc chung:
- Tăng huyết áp là bệnh mạn tính nên cần theo dõi đều, điều trị đúng và đủ hàng ngày, điều trị lâu dài.
- Mục tiêu điều trị là đạt “huyết áp mục tiêu” và giảm tối đa “nguy cơ tim mạch”.

Chuyên mục: , , , ,